Danh mục : Thị Trường

Tin tức thép Miền Bắc Nosco JSC

Doanh nghiệp thép méo mặt vì khó hai đầu

Đầu ra gặp khó, trong khi giá nguyên liệu vật liệu tăng trở lại đang là thách thức lớn mà các doanh nghiệp ngành thép phải đối mặt.

Doanh nghiệp thép méo mặt vì khó hai đầu

Tiêu thụ sụt giảm mạnh

Số liệu thống kê của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cho thấy, trong 2 quý đầu năm, sản lượng thép bán ra toàn ngành đạt gần 12,37 triệu tấn, giảm 9,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu thép giảm tới 19,3% so với cùng kỳ, chỉ đạt 2,28 triệu tấn.

Tại cuộc họp với đại diện hơn 40 doanh nghiệp thành viên của VSA mới đây, ông Nghiêm Xuân Đa, Chủ tịch Hiệp hội nhận xét: “Thị trường thép các tháng đầu năm khó khăn với tình trạng cung vượt cầu. Điều này tạo sức ép cạnh tranh ngày càng lớn giữa các nhà sản xuất thép xây dựng”.

Trong bối cảnh này, báo cáo tài chính quý II và 2 quý đầu năm của nhiều doanh nghiệp trong ngành ghi nhận sự sụt giảm mạnh về doanh thu và lợi nhuận. Đơn cử, CTCP Thép Vicasa – VNSteel (VCA) báo cáo kết quả kinh doanh quý II với doanh thu 504,6 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế 4,8 tỷ đồng, tương đương 94,5% và 61,5% cùng kỳ 2019.

Theo lý giải của lãnh đạo Công ty, áp lực cạnh tranh gay gắt khiến sản lượng tiêu thụ thép cán cũng như giá bán giảm so với cùng kỳ, làm cho lợi nhuận gộp trong quý giảm 8,13 tỷ đồng. Luỹ kế 6 tháng đầu năm, VCA đạt doanh thu 975,2 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế 12,7 tỷ đồng, lần lượt bằng 79,4% và 72,6% so với thực hiện cùng kỳ 2019. 

Tổng công ty Thép Việt Nam – CTCP (VNSteel) vừa báo cáo lợi nhuận sau thuế hợp nhất quý II giảm hơn 300 tỷ đồng so với cùng kỳ, tương ứng mức giảm 83%. Theo giải trình của lãnh đạo VNSteel, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên trong quý II, lợi nhuận từ các công ty liên doanh, liên kết âm 91,9 tỷ đồng.

6 tháng đầu năm, Tổng công ty ghi nhận 15.348 tỷ đồng doanh thu, giảm 13,4% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế đạt hơn 92 tỷ đồng, giảm 80% so với cùng kỳ, chủ yếu do khoản lỗ gần 250 tỷ đồng từ hoạt động tài chính và các công ty liên doanh, liên kết.

Hàng loạt doanh nghiệp cùng ngành như Hoa Sen, Nam Kim, SMC, Pomina báo cáo doanh thu suy giảm từ 11 – 13% trong 6 tháng đầu năm. Cá biệt, Đại Thiên lộc giảm tới 42% do tình hình kinh doanh khó khăn, bán hàng sụt giảm. Pomina đã lỗ 144 tỷ đồng trong nửa đầu năm, tăng so với mức lỗ 132 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.

Điểm sáng hiếm hoi có tăng trưởng lợi nhuận trong nửa đầu năm nay là Hòa Phát, Hoa Sen và Nam Kim.

Đầu ra chưa cải thiện, chi phí đầu vào lại tăng

Diễn biến đáng chú ý trên thị trường thép là giá nguyên liệu sản xuất đang có xu hướng tăng cao, trong khi đà phục hồi của đầu ra còn chịu nhiều thách thức bởi đại dịch Covid-19.

Số liệu cập nhật của VSA cho thấy, giá phần lớn các loại nguyên liệu cho sản xuất thép trong nước như quặng sắt, thép cuộn cán nóng đều đang tăng trở lại.

Trong đó, giá quặng sắt loại 62% Fe ngày 8/8 giao dịch ở mức 115 – 118 USD/tấn, tăng 9 – 12 USD/tấn so với đầu tháng 7. Giá cuộn cán nóng HCR ngày 9/8 ở mức 480 – 485 USD/tấn, tăng 50 – 60 USD/tấn so với mức giá giao dịch đầu tháng 7, sau khi giảm sâu ở mức 50 – 55 USD/tấn so với mức giá hồi đầu tháng 3/2020.

Không chỉ các loại quặng và cuộn nóng, giá thép phế liệu cũng tăng đáng kể. Thép phế HMS ½ 80:20 nhập khẩu cảng Đông Á đang giao dịch ở mức 280 USD/tấn, tăng 20 USD/tấn so với hồi đầu tháng 7/2020 và tăng trở lại so với xu hướng đi ngang của giá thép phế liệu chào bán tại các thị trường châu Âu, châu Mỹ và châu Á trong 3 tháng gần đây.

Sản lượng sản xuất thép các loại trong tháng 7 tăng 7,7% so với tháng trước và ngang mức cùng kỳ 2019, song tình hình bán hàng của các doanh nghiệp trong tháng 7 lại kém tích cực.

Cụ thể, số liệu của VSA cho thấy, số lượng bán hàng thép các loại trong tháng 7 đạt 1.955.784 tấn, tăng 11,25% so với tháng 6, nhưng giảm 3,6% so với cùng kỳ 2019. Điều này đồng nghĩa với áp lực cạnh tranh tiêu thụ trong ngành gia tăng.

Chi phí đầu vào tăng, tiêu thụ khó khăn và giá bán khó nâng lên tương ứng với đà tăng đầu vào khiến bài toán lợi nhuận trở nên đau đầu với nhiều doanh nghiệp thép.

Trong bối cảnh bán hàng khó khăn, giá nguyên liệu tăng, VSA khẳng định ủng hộ nguyên tắc thị trường, cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà sản xuất thép trong nước, hợp tác cùng có lợi.

Hiệp hội cũng khuyến nghị các nhà sản xuất thép xây dựng, phôi thép tăng cường trao đổi thông tin thị trường, minh bạch, thể hiện tinh thần thiện chí. Các doanh nghiệp thành viên Hiệp hội có khả năng dẫn dắt thị trường, thể hiện trách nhiệm đối với cộng đồng các nhà sản xuất, phân phối thép, không lạm dụng vị trí của mình gây tổn hại đến các nhà sản xuất nhỏ.

(Nguồn: tinnhanhchungkhoang.vn)

Tin tức thép Miền Bắc Nosco JSC

Nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc 7 tháng đầu năm giảm trên 30% kim ngạch

Tin tức thép Miền Bắc Nosco JSC

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, lượng sắt thép các loại nhập khẩu về Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2020 đạt trên 8,13 triệu tấn, tương đương gần 4,78 tỷ USD, giá trung bình 587,2 USD/tấn, giảm 2,8% về lượng, giảm 15,1% về kim ngạch và giảm 12,6% về giá so với cùng kỳ năm 2019.

Lượng sắt thép nhập khẩu của riêng tháng 7/2020 đạt 1,42 triệu tấn, tương đương 751,16 triệu USD, giá trung bình 529 USD/tấn, tăng 19,2% về lượng, tăng 15% về kim ngạch, nhưng giảm 3,5% về giá so với tháng 6/2020.

Trong tháng 7/2020, các thị trường đáng chú ý về mức tăng trưởng mạnh so với tháng lền kề trước đó là: Nhập khẩu từ Brazil tăng 14.235% về lượng và tăng 6.959% về kim ngạch, đạt 12.185 tấn, tương đương 3,8 triệu USD nhưng giá giảm 50,8%, đạt 311,7 USD/tấn; nhập khẩu từ Australia tăng 1.018,5% về lượng và tăng 958,8% về kim ngạch, đạt 28.455 tấn, tương đương 11,33 triệu USD; Nga tăng 463% về lượng và tăng 458% về kim ngạch, đạt 125.903 tấn, tương đương 49,2 triệu USD. Ngược lại, nhập khẩu sắt thép từ thị trường EU giảm mạnh, giảm 40,2% về lượng và giảm 32,3% về kim ngạch, đạt 1.918 tấn, tương đương 6,63 triệu USD.

Tính chung cả 7 tháng đầu năm 2020, sắt thép nhập khẩu từ Trung Quốc được nhiều nhất, đạt 2,48 triệu tấn, tương đương 1,52 tỷ USD, giá trung bình 614,3 USD/tấn, chiếm trên 30,5% trong tổng lượng và chiếm 31,9% trong tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của cả nước, giảm 28,4% về lượng, giảm 30,5% về kim ngạch và giảm 2,9% về giá so với cùng kỳ năm 2019.

Nhật Bản là thị trường lớn thứ 2 cung cấp sắt thép cho Việt Nam, với 1,43 triệu tấn, tương đương 811,62 triệu USD, giá 569,3 USD/tấn, tăng 18,6% về lượng, nhưng giảm 0,1% về kim ngạch và giảm 15,8% về giá so với cùng kỳ năm trước, chiếm trên 17% trong tổng lượng và tổng kim ngạch sắt thép nhập khẩu của cả nước,

Tiếp sau đó là thị trường Hàn Quốc đạt 990.068 tấn, tương đương 714,93 triệu USD, giá 722,1 USD/tấn, giảm cả về lượng, kim ngạch và giá so với cùng kỳ năm 2019, với mức giảm lần lượt 0,5%, 11,3% và 10,8%; chiếm 12,2% trong tổng lượng sắt thép nhập khẩu của cả nước và chiếm 15% trong tổng kim ngạch.

Sắt thép nhập khẩu từ thị trường Ấn Độ đạt 1,56 triệu tấn, kim ngạch 676,94 triệu USD, giá 433,9 USD/tấn, tăng mạnh 116% về lượng, tăng 72,3% về kim ngạch nhưng giảm 20,3% về giá so với cùng kỳ năm 2019.

Nhìn chung, trong 7 tháng đầu năm nay nhập khẩu sắt thép từ phần lớn các thị trường bị sụt giảm so với cùng kỳ năm 2019; trong đó giảm mạnh từ các thị trường: Thổ Nhĩ Kỳ giảm 95% cả về lượng và kim ngạch, chỉ đạt 1.937 tấn, tương đương 1,38 triệu USD; Brazil cũng giảm 81,6% về lượng và giảm 87,7% về kim ngạch, đạt 29.462 tấn, tương đương 10,71 triệu USD; Bỉ giảm 65,7% về lượng và giảm 85,1% về kim ngạch, đạt 5.516 tấn, tương đương 3,02 triệu USD.

Ngược lại, nhập khẩu tăng cao từ một số thị trường: Ba Lan tăng 1.467% về lượng và tăng 1.350% về kim ngạch, đạt 815 tấn, tương đương 0,97 triệu USD; Phần Lan tăng 39% về lượng và tăng 20,6% về kim ngạch, đạt 977 tấn, tương đương 2,46 triệu USD.

Nhập khẩu sắt thép 7 tháng đầu năm 2020
(Tính toán theo số liệu công bố ngày 12/8/2020 của TCHQ) 

 Thị trường7 tháng đầu năm 2020So với cùng kỳ năm 2019 (%)Tỷ trọng (%)
Lượng (tấn)Trị giá (USD)LượngTrị giáLượngTrị giá
Tổng cộng8.132.7474.775.817.237-2,83-15,1100100
Trung Quốc đại lục2.477.8451.522.096.439-28,39-30,4830,4731,87
Nhật Bản1.425.551811.622.77218,64-0,1317,5316,99
Hàn Quốc990.068714.927.805-0,46-11,2512,1714,97
Ấn Độ1.560.151676.938.657116,0272,2519,1814,17
Đài Loan (TQ)995.053525.421.4656,33-6,3612,2411
Indonesia147.215202.238.1754,4-9,011,814,23
Nga265.679110.822.41616,82-8,53,272,32
Thái Lan43.85243.793.051-20,94-25,240,540,92
Malaysia48.97941.055.320-77,89-69,20,60,86
Australia66.39529.395.29522,212,480,820,62
Đức5.58812.939.366-64,82-59,150,070,27
Pháp2.15012.904.09873,67-45,660,030,27
Brazil29.46210.714.119-81,55-87,650,360,22
Mỹ9.4638.392.79331,74-10,910,120,18
Thụy Điển2.4147.701.240-47-59,850,030,16
Áo9404.115.185-13,92-13,920,010,09
Bỉ5.5163.015.948-65,73-85,140,070,06
Nam Phi1.9332.834.946-46,1-52,250,020,06
Phần Lan9772.460.65738,9820,550,010,05
Italia2.6092.088.291-25,58-44,860,030,04
Tây Ban Nha1.9752.036.921-16,8110,070,020,04
Hà Lan1.9891.724.948-71,71-57,40,020,04
Philippines1.3001.423.982-57,15-63,870,020,03
Thổ Nhĩ Kỳ1.9371.381.868-95,31-94,880,020,03
New Zealand3.0811.274.710-73,83-78,320,040,03
Mexico1.6041.112.416-71,83-68,450,020,02
Singapore9881.072.215-16,9-16,840,010,02
Ba Lan815965.6161.467,311.350,310,010,02
Canada1.239608.01528,2617,380,020,01
Hồng Kông (TQ)425532.240-53,8-55,090,010,01
Anh352440.877-83,39-74,1400,01
Saudi Arabia10066.68120,489,3200
Đan Mạch1434.975-67,44-59,9600

(Nguồn: vinanet.vn)

Tổng quan thị trường thép toàn cầu tháng 7 2020

Tổng quan thị trường thép toàn cầu – tháng 7/2020

Các nguồn thị trường kỳ vọng vai trò của Trung Quốc là nước nhập khẩu thép ròng có thể tiếp tục trong ít nhất là tháng 7 và tháng 8.

Trung Quốc sẽ duy nửa cuối năm mạnh mẽ nhờ kích thích kinh tế

Mức độ phục hồi của Trung Quốc về mặt kinh tế và thị trường thép đã được đưa ra bởi nước này trở thành nước nhập khẩu ròng thép lần đầu tiên sau 11 năm trong tháng 6.

Những lý do cho điều này có hai mặt: ngành công nghiệp Trung Quốc đã quay trở lại cuộc sống sau Covid, được thúc đẩy bởi tín dụng giá rẻ, sự kích thích và nhu cầu bị dồn nén; trong khi các thị trường bên ngoài Trung Quốc vẫn đang dần tăng tốc trở lại. Việc nới lỏng tín dụng của Trung Quốc trong nửa đầu năm 2020 đã thúc đẩy nhu cầu từ cơ sở hạ tầng và bất động sản, cho phép các thương nhân duy trì tồn kho cao và mua nhiều hơn với dự đoán về sự cải thiện hơn nữa trong nửa cuối năm.

Các nhà kinh tế cho biết, Bắc Kinh sẽ cần phải tiếp tục cung cấp các biện pháp kích thích, và nhiều thứ nữa để đảm bảo tự duy trì, phục hồi tiêu thụ tư nhân vào năm tới.

Các nguồn thị trường kỳ vọng vai trò của Trung Quốc là nước nhập khẩu thép ròng có thể tiếp tục trong ít nhất là tháng 7 và tháng 8.

Sức hấp dẫn của việc bán vào Trung Quốc là điều hiển nhiên khi giá trong nước mạnh hơn nhiều so với các thị trường khác. Trong phần lớn tháng 7, giá cuộn cán nóng trong nước cao hơn khoảng 100 USD/tấn so với giá nhập khẩu Đông Nam Á. Vào ngày 21 tháng 7, biên lợi nhuận của HRC đã vượt qua tỷ suất lợi nhuận thép thanh trong nước lần đầu tiên kể từ tháng 3, theo dữ liệu của Platts cho thấy. Vì vậy, mặc dù giá quặng sắt cao, biên lợi nhuận thép vẫn mạnh mẽ.

Tại Hoa Kỳ, sử dụng công suất thép đã gần chạm mốc 60% nhưng điều kiện thị trường vẫn chưa thực sự cải thiện. Giá đã giảm xuống bởi giá phế liệu thấp hơn. Đại dịch coronavirus đang diễn ra tiếp tục gây ra sự không chắc chắn trong điều kiện thị trường chung trong quý 3.

Châu Âu dường như mạnh hơn, với nhu cầu được cải thiện tại thời điểm công suất sản xuất vẫn giảm. Sự thiếu hụt nguồn cung tiềm tàng và giá nguyên liệu thô cao có thể thấy giá tăng trong tháng 9 và tháng 10.

Triển vọng

Giá cuộn cán nóng châu Á dẫn đầu từ giá nội địa Trung Quốc và giá Trung Quốc thường dẫn đầu từ tương lai, điều này đã thay đổi gần đây. Nhưng sự quan tâm mua ở Đông Nam Á đang quay trở lại, cho phép các nhà máy Ấn Độ tăng giá chào hàng tới người mua Việt Nam, được hỗ trợ bởi nguồn cung thấp hơn từ Formosa Hà Tĩnh.

Platts đánh giá HRC SAE1006 ở mức $485/tấn FOB Trung Quốc vào ngày 24/7, tăng $5/tấn so với ngày hôm trước, trong khi giá CFR Đông Nam Á là $478/tấn, tăng $2/tấn trong cùng thời điểm.

Giá HRC châu Âu đã được cải thiện vào cuối tháng 7, với đơn hang cải thiện đã tang sự lạc quan. Chỉ số HRC là Eur406,50/tấn ($478,09/tấn) xuất xưởng Ruhr vào ngày 27/7.

Các nhà máy đang tìm cách nâng giá thêm Eur10-15/tấn trong những tuần tới, điều này có thể đạt được khi nhu cầu cải thiện do các quốc gia bắt đầu kết thúc kỳ nghỉ hè và việc đóng cửa do dịch. Sản xuất thép thấp hơn trong khu vực sẽ cung cấp hỗ trợ giá. Không giống như ở Trung Quốc, tiền mặt ở châu Âu chặt chẽ hơn sẽ khiến giá không tăng quá cao.

Với đại dịch vẫn là mối lo ngại lớn trên khắp cả nước, giá HRC của Hoa Kỳ có thể đấu tranh để vượt qua $450,50/tấn trong tháng tới, mặc dù một số nhà máy nhỏ đang cố gắng với giá $460/tấn. Nguồn cung chặt chẽ hơn vì tỷ lệ công suất chỉ dưới 60% so với 80% trước khi có virus. Nhưng nhu cầu hạ nguồn vẫn còn yếu, do phân khúc ô tô và người tiêu dùng suy yếu.

Các nhà sản xuất thép dài của Thổ Nhĩ Kỳ đã tăng giá thép cây trong nước lên khoảng $445/tấn xuất khẩu để giúp trang trải chi phí phế liệu và vận chuyển cao hơn. Nhu cầu trong nước được nhìn thấy phục hồi từ tháng 8, được hỗ trợ bởi nhu cầu xuất khẩu vững chắc ở Trung Đông và châu Á. Trên cơ sở này, các nhà máy Thổ Nhĩ Kỳ đã tìm cách nâng giá xuất khẩu lên $435/tấn FOB. Nếu giá phế liệu tiếp tục ổn định, có khả năng, giá có thể tăng hơn nữa.

Nhập khẩu phế liệu nóng chảy cao cấp của Thổ Nhĩ Kỳ đạt mức cao nhất kể từ đầu tháng 3 vào ngày 24/7 ở mức $270,50/tấn CFR. Giá đã giảm xuống mức thấp nhất trong bốn năm là $207/tấn CFR vào ngày 30/3. Động lượng cho thấy giá phế liệu sẽ tiếp tục tăng, có khả năng sẽ tăng sau kỳ nghỉ lễ Eid, kết thúc vào ngày 3/8.

Giá quặng sắt đã giảm từ mức $110/tấn CFR Trung Quốc trở lên do nguồn cung phục hồi. Trung Quốc đã nhập khẩu gần 102 triệu tấn quặng sắt trong tháng 6, do các nhà cung cấp Úc tối đa hóa xuất khẩu trước khi kết thúc năm tài chính vào ngày 30/6. Nhưng sản xuất thép thô có thể vẫn còn mạnh do giá cao và tỷ suất lợi nhuận cao. Do đó, dường như giá quặng sắt sẽ không quá hạ so với mức hiện tại và có thể dễ dàng quay trở lại mức $110/tấn do xuất khẩu của Úc thường giảm trong tháng 7.

Cuộn thép (Coil)

Thị trường HRC châu Âu chứng kiến sự tăng trưởng khi sự lạc quan trở lại thị trường. Chỉ số HRC theo Platts được tính ở mức Eur403/tấn ($460,26/tấn) xuất xưởngRuhr, trong khi cuộn cán nguội được đánh giá ở mức Eur504/tấn xuất xưởng Ruhr. Hàng sẵn có trên thị trường quốc tế đang thắt chặt và điều này sẽ tiếp tục hỗ trợ giá cao hơn, một thương nhân có trụ sở tại Anh cho biết.

Các nhà máy hiện sẽ có vị trí tốt để đạt được mức tăng giá cho năm nay, một nguồn tin cho biết: “Ấn Độ và Trung Quốc đang yêu cầu giá nhập khẩu cao hơn nhiều, họ tập trung vào nhu cầu nội bộ, hiện tại ngành ô tô cũng đang cải thiện, với một số tiểu bang của EU hỗ trợ mua xe cá nhân, vì vậy quý IV sẽ tốt hơn nhiều.”

Tình hình được cải thiện ở thị trường cuộn thép châu Âu đã giúp người mua thép xem xét trường hợp phục hồi trong quý III.

Tương tự, tâm trạng rất tích cực tại các thị trường châu Á khi người mua Việt Nam tăng giá thầu trong bối cảnh chào giá nhập khẩu cao hơn ngay cả khi nhà sản xuất HRC Formosa Hà Tĩnh tăng giá chào hàng tháng. Platts đã đánh giá SAE1006 HRC ở mức $ 467/tấn FOB Trung Quốc vào giữa tháng 7. Trên cơ sở CFR Đông Nam Á, cuộn thép cùng loại được đánh giá ở mức $456/tấn. Tại Thượng Hải, giá giao ngay HRC Q235 5,5 mm được đánh giá ở mức 3.890 NDT/tấn ($555,8/tấn) xuất xưởng, bao gồm VAT.

Tại Việt Nam, giá thầu lên tới $455/tấn, tuy nhiên khan hiếm chào hàng. Chào giá cho cuộn SAE1006 của Ấn Độ được nghe nói ở mức $475/tấn cho lô hàng tháng 9. Điều này đặc biệt như vậy sau khi Formosa đưa ra giá cho khách hàng của mình trên cơ sở cá nhân vào giữa tháng 7, tương tự như đã thực hiện kể từ tháng 4 năm nay. Những người tham gia thị trường nhận thấy những chào giá“công bằng” và “hợp lý” với những chào hàng nhập khẩu cao hơn nhiều.

Thị trường xuất khẩu CRC của Trung Quốc cũng mạnh hơn, cùng với thị trường nội địa vững chắc và chào hàng ổn định từ các nhà máy, trong khi người mua ở nước ngoài vẫn im lặng. Platts đánh giá CRC loại SPCC dày 1 mm ở mức $491/tấn FOB Trung Quốc. Sự chênh lệch giữa giá xuất khẩu CRC và HRC thương phẩm dao động khoảng $50/tấn.

Thị trường cuộn thép của Trung Quốc đã tăng giá khi sản lượng và doanh số xe hơi của Trung Quốc tăng lên trong tháng 6.

Trong bối cảnh lạc quan của thị trường, Baosteel tại Thượng Hải cho biết sẽ tăng giá hầu hết các sản phẩm thép dẹtlô hang giao tháng 8. Giá xuất xưởng HRC, CRC thương phẩm, cuộn mạ kẽm nhúng nóng và cuộn mạ kẽm điện của công ty sẽ tăng 100NDT/tấn ($14/tấn) từ giá giao hàng tháng 7.

Tại Đông Nam Á, nhu cầu thép ở ASEANdự kiến ​​sẽ giảm 2,1% so với năm trước, trước khi hồi phục khoảng 5% vào năm 2021, theo dữ liệu từ Seaisi, do ảnh hưởng của đại dịch coronavirus.

Sản xuất thép dẹt ASEAN dự kiến ​​sẽ giảm xuống còn 41 triệu tấn vào năm 2020, từ mức 41,8 triệu tấn năm 2019.

Sản phẩm thép dài

Các nhà sản xuất Thổ Nhĩ Kỳ hoan nghênh phán quyết của Tòa án Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ rằng quyết định của Tổng thống Donald Trump áp thuế bổ sung đối với thép nhập khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ theo Mục 232 của Đạo luật Mở rộng Thương mại năm 1962 là vi phạm luật.

Do phán quyết của tòa án cũng loại bỏ lo ngại của các nhà sản xuất Thổ Nhĩ Kỳ và các nhà nhập khẩu Mỹ về một đợt tăng thuế quan khác trong các thỏa thuận mới, nên Veysel Yayan, Tổng thư ký Hiệp hội các nhà sản xuất thép Thổ Nhĩ Kỳ, đang kỳ vọng thương mại thép giữa các nước sẽ phục hồi.

Giữa những thông tin tích cực, giá thép cây xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ đã ổn định nhờ giá quặng sắt và phế liệu cao hơn, cũng như sự quan tâm mua duy trì từ châu Á. Các nhà xuất khẩu thép cây Thổ Nhĩ Kỳ đã nâng giá chào bán nhằm tận dụng động lực thúc đẩy bởi các thị trường châu Á tăng giá.

Trong khi đó, biện pháp tự vệ nhập khẩu hàng năm của EU cho giai đoạn 2020-2021 bắt đầu từ ngày 1/7 với khối lượng nhập khẩu được phân bổ hàng quý. Hạn ngạch tự vệ nhập khẩu hàng năm của EU đối với thép cây có xuất xứ từ Thổ Nhĩ Kỳ trong quý đầu tiên, tổng cộng là 76.792 tấn và có hiệu lực từ ngày 1/7 đến ngày 30/9.

Mặc dù đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường thép toàn cầu nói chung, nhưng  sản phẩm thép dài không bị ảnh hưởng nặng nề như sản phẩm dẹt. Các nhà máy hoạt động với tỷ lệ sử dụng công suất trên 60% là may mắn, trong khi những nhà máy hoạt động dưới 50% đang gặp khó khăn.

Tại thị trường châu Á, nhu cầu tăng mạnh trong tháng qua, với thu nhập từ công nghiệp tăng mạnh trong tháng 6 tại Trung Quốc. Khi phần còn lại của thế giới đang dần mở cửa sau khi đóng cửa, các hoạt động kích thích đang thúc đẩy hoạt động sản xuất và xây dựng.

Nhu cầu nội địa mạnh mẽ của Trung Quốc đã giúp thép Trung Quốc không làm nản lòng các thị trường xuất khẩu. Theo đó, không có mối đe dọa nào đối với thế giới rằng “thép giá rẻ từ Trung Quốc sẽ tràn ngập thị trường”, mà có vẻ giống như “thép giá rẻ từ châu Âu” đang tìm kiếm điểm đến.

Trên thực tế, tăng trưởng tổng tài chính xã hội của Trung Quốc, một động lực chính của đầu tư bất động sản và cơ sở hạ tầng, đã tăng tốc vào tháng 6 khi chính phủ Trung Quốc nới lỏng hầu bao để hỗ trợ nền kinh tế. Các nguồn tin thị trường thép dự kiến việc nới lỏng tín dụng của Trung Quốc sẽ kéo dài đến nửa cuối năm 2020, hỗ trợ cho tồn kho, nhu cầu và sản xuất thép.

Tồn kho thép dài ở thành phố Quảng Châu, miền nam Trung Quốc đã giảm vào đầu tháng 7 khi hoạt động xây dựng diễn ra sau mùa mưa. Các nguồn tin thị trường cho biết điều này cho thấy nhu cầu thép từ lĩnh vực xây dựng ở miền đông Trung Quốc và dọc sông Dương Tử sẽ nhanh chóng phục hồi sau khi mưa lớn theo mùa ở những khu vực này kết thúc vào giữa tháng 7.

Giá thép cây ở châu Á ổn định trong bối cảnh các giao dịch tại thị trường Hồng Kông đối với hàng hóa Thổ Nhĩ Kỳ và một số giao dịch tại thị trường Hàn Quốc.Platts đánh giá thép cây BS500 đường kính 16-20 mm ở mức $431/tấn FOB Trung Quốc trọng lượng thực tế.

Tại ASEAN, sản lượng thép dài được dự báo sẽ giảm xuống 38 triệu tấn trong năm nay từ mức 39,2 triệu tấn của năm trước, theo số liệu của SEAISI, do ảnh hưởng của đại dịch coronavirus. Lĩnh vực xây dựng và sản xuất đã chịu tác động do việc đóng cửa và những hạn chế khác.

Thép tấm

Thị trường thép tấm của Mỹ giảm do nhu cầu yếu và phế liệu thấp hơn gây áp lực giảm, do đó đưa chỉ số S&P Global Platts HRC Mỹ xuống mức thấp kỷ lục trong 4 năm vào ngày 16/7 ở mức $458,75/tấn.

Sau hai đợt tăng giá, giá thép tấm tăng trên $50/tấm kể từ khi đạt mức thấp $563,25/tấn vào cuối tháng 5, nhưng bắt đầu giảm vào đầu tháng 7.

Các nguồn bên mua cho rằng nhu cầu vẫn tiếp tục yếu từ một số thị trường tiêu dùng cuối cùng và áp lực từ giá phế liệu giảm khiến giá thép tấm giảm.

Các lô hàng thép của Mỹ tại các nhà máy thép cán dẹt dự kiến sẽ bị ảnh hưởng trong quý II khi các nhà máy giảm mức vận hành trong bối cảnh đại dịch coronavirus.

Tại Châu Á, Platts kỳ vọng tỷ suất lợi nhuận thép của Trung Quốc sẽ duy trì ở mức tốt trong nửa cuối năm, mặc dù không có khả năng họ sẽ đạt mức cao nhất trong nửa đầu năm 2019. Song song với chương trình mở rộng công suất thép của nước này, tỷ suất lợi nhuận thép của Trung Quốc có xu hướng giảm kể từ năm 2018.

Các ngành sản xuất liên quan đến cơ sở hạ tầng của Trung Quốc, chẳng hạn như máy móc kỹ thuật và sản xuất điện, dự kiến sẽ cung cấp nhu cầu mạnh mẽ về thép tấm và một số sản phẩm thép dẹt trong nửa cuối năm.

Tại Hàn Quốc, các nhà sản xuất thép đang tìm cách quay trở lại mức trước COVID-19. POSCO đã khởi động lại lò cao số 3 tại Gwangyang vào ngày 10/7 sau khi hoàn thành các công việc bảo dưỡng theo lịch trình. Ban đầu công ty dự kiến sẽ khởi động lại sớm nhất vào ngày 28/5 nhưng đã bị hoãn lại do đại dịch COVID-19.

Thép phế và Nguyên liệu thô

Giá phế liệu tang cao ở hầu hết các khu vực toàn cầu vào giữa tháng 7 do nhu cầu tăng. Tuy nhiên, thị trường phế liệu Mỹ đã không thể có được lực kéo từ đà tăng ở các khu vực khác do nhu cầu phục hồi chậm. Giá phế liệu nhập khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ tăng trong bối cảnh tâm lý tích cực của Trung Quốc và nhu cầu thép thành phẩm được cải thiện ở cả thị trường nội địa và xuất khẩu trong những tuần gần đây.

Triển vọng thị trường nội địa Hoa Kỳ vẫn chịu áp lực sau khi tuần mua phế liệu tháng 7 giảm đáng kể, kết thúc vào ngày 10/7 với các loại nguyên liệu cơ bản giảm $40/tấn và phế liệu vụn giảm $20/tấn trong hầu hết các giao dịch ở Trung Tây.

Bất chấp sự sụt giảm mạnh gần đây, các nguồn tin thị trường không cho rằng sự phục hồi trở lại trong giao dịch tháng 8. Theo các nguồn tin, giá phế liệu chính sẽ chịu nhiều áp lực nhất trong tháng tới. Xu hướng giảm giá thép tấm của Mỹ là một yếu tố tiêu cực lớn. Giá HRC của Mỹ giảm xuống mức thấp nhất trong 4 năm vào ngày 17/7, theo dữ liệu về giá cả của Platts.

Với xu hướng giảm liên tục của giá HRC, nhu cầu mua phế liệu của các nhà máy nhỏ trong tháng 8 đang được đặt câu hỏi trên thị trường. Giá phế liệu châu Á tiếp tục tăng trong tuần khi người bán Nhật Bản lạc quan tăng giá chào bán thêm $10-15/tấn trong toàn khu vực.

Quặng sắt vẫn mạnh

Giá tiêu chuẩn quặng sắt 62% Fe tiếp tục được hỗ trợ nhờ nhu cầu mạnh, biên lợi nhuận thép được cải thiện và một số nguồn cung khan hiếm. Theo Platts chỉ số giá quặng sắt 62% đóng cửa ở mức cao nhất trong 11 tháng qua ở mức $112,70/tấn khô vào ngày 15/7 trước khi điều chỉnh xuống $110,45/tấn khô vào ngày 17/7, tăng 3,2% so với tuần trước đó.

Sản lượng thép thô của Trung Quốc tiếp tục mạnh sau khi ghi nhận kỷ lục mức hoạt động bình quân ngày trong tháng 5 và tháng 6. Mưa lớn ở các khu vực của Trung Quốc dự kiến sẽ không có bất kỳ tác động lớn nào đáng kể và nhu cầu sẽ cải thiện trở lại vào cuối tháng 7.

Than luyện kim vẫn trong tình trạng ảm đạm

Giá than luyện kim ở châu Á – Thái Bình Dương ở phân khúc cao cấp giảm do số lượng người mua ở Trung Quốc giảm dần. Sự không chắc chắn xung quanh chính sách nhập khẩu của Trung Quốc tiếp tục đeo bám lĩnh vực này. Platts đánh giá than luyện cốc cao cấp giảm $8,25/tấn so với tuần trước xuống $107,00/tấn FOB Úc vào ngày 17/7, trong khi giá giao tới Trung Quốc giảm $7,50/tấn xuống $121

Các nguồn tin cho biết chênh lệch giá giữa nội địa và đường biển là lớn nhất đối với thân luyện cốc cao cấp. Đối với các loại khác, như than phun than nghiền thành bột và than bán mềm, mặc dù vẫn được hưởng một số chênh lệch, nhưng ít đáng kể hơn và do đó nhu cầu đối với các vật liệu này yếu hơn.

Tại thị trường Đại Tây Dương, giá than luyện kim đã tăng vào ngày 20/7 do nguồn sẵn có giao ngay thấp cho đến cuối quý III và giá than luyện cốc cao cấp của Úc ổn định hơn.

Sản lượng

Sản lượng thép thô của Trung Quốc tăng liên tiếp do nhu cầu tốt khi tồn kho cao hơn. CISA báo cáo rằng sản lượng từ các thành viên của nó đạt trung bình 2,14 triệu tấn/ngày trong ngày 10 – 20/7, tăng 0,4% so với đầu tháng 7 và cao hơn 6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Nhu cầu mạnh đã chậm lại do mưa lớn và lũ lụt ở các khu vực phía nam của Trung Quốc. Do đó, thép dài dùng trong xây dựng bị ảnh hưởng nhiều hơn thép dẹt do thời tiết ẩm ướt. Tuy nhiên, tình hình lũ lụt dự kiến sẽ giảm bớt vào cuối tháng 7, các nguồn tin thị trường cho biết.

Trung Quốc sản xuất 91,6 triệu tấn thép thô trong tháng 6/2020, đánh dấu mức tăng 4,5% so với tháng 6/2019. Ấn Độ sản xuất 6,9 triệu tấn thép thô trong tháng 6, giảm 26,3% so với tháng 6 năm 2019.

Sản lượng thép thô của Nhật Bản đạt 42,21 triệu tấn trong 6 tháng đầu năm 2020, giảm 17,4% so với cùng kỳ năm trước. Riêng trong tháng 6, sản lượng giảm 36,3% so với cùng kỳ và 5,5% so với tháng 5 xuống 6,59 triệu tấn. Trong 6 tháng đầu năm, tỷ trọng thép thô sản xuất từ lò cao và lò hồ quang điện ít thay đổi ở mức 75,0% và 25,0%, so với 74,9% và 25,1% trong nửa đầu năm 2019.

Mức sử dụng thép thô của Hoa Kỳ tiếp tục tăng vào giữa tháng 7, tăng lên 58,3% từ mức 57,5% của tuần trước.

Sản lượng thép thô tại 64 quốc gia báo cáo với Hiệp hội Thép Thế giới trong tháng 6 giảm 7% so với cùng kỳ năm ngoái xuống còn 148,3 triệu tấn do những khó khăn liên tục do đại dịch COVID-19 gây ra.

Liên minh châu Âu sản xuất 68,3 triệu tấn thép thô trong nửa đầu năm 2020, giảm 18,7% so với nửa đầu năm 2019. Ý, nước sản xuất lớn thứ hai của EU, có sản lượng giảm 13% xuống 1,8 triệu tấn thép thô vào tháng 6. Pháp và Tây Ban Nha mỗi nước sản xuất 800.000 tấn thép thô trong tháng 6, giảm lần lượt 34,9% và 31,5% so với cùng kỳ 2019.

(Nguồn: Hiệp hội thép Việt Nam)

Tin tức thép Miền Bắc Nosco JSC

Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 7/2020 và 7 tháng đầu năm 2020

Việt Nam là quốc gia ASEAN duy nhất được dự báo tăng trưởng dương trong năm 2020. Chính phủ đang thúc đẩy nhiều hoạt động xây dựng, đầu tư công hơn để thúc đẩy phát triển kinh tế trong nước.

Sản xuất và bán hàng các sản phẩm thép trong nước 7 tháng đầu năm 2020 đã ghi nhận mức tăng trưởng âm lần lượt là 6,9% và 9,6% so với cùng kỳ năm 2019.

Tình hình thị trường nguyên liệu sản xuất thép:

  • Quặng sắt loại 62%Fe: Giá quặng sắt ngày 08/08/2020 giao dịch ở mức 115-118 USD/Tấn CFR cảng Thiên Tân, Trung Quốc, tăng 9-12 USD/tấn so với đầu tháng 7/2020.
  • Than mỡ luyện cốc: Giá than mỡ luyện cốc, xuất khẩu tại cảng Úc (giá FOB)  ngày 09/08/2020:Premium Hard coking coal: khoảng 107USD/tấngiảm nhẹ so với đầu tháng 7/2020
  • Thép phế liệu:Giá thép phế HMS ½ 80:20 nhập khẩu cảng Đông Á ở mức 280 USD/tấn CFR Đông Á ngày 09/08/2020. Mức giá này tăng 20 USD/tấn so với hồi đầu tháng 7/2020. Nhìn chung, giá thép phế chào bán tại các thị trường Châu Âu, Châu Mỹ Á có xu hướng đi ngang trong 3 tháng gần đây.
  • Điện cực graphite: Giá than điện cực trong 7 tháng/2020 tương đối ổn định, điều chỉnh tăng nhẹ hồi đầu năm 2020 khi bùng nổ đại dịch Covid-19 sau đó giữ ở mức ổn định bình quân quý IV năm 2019. Mức giá giao dịch trung bình 7 tháng 2020 là khoảng 1.800-2.400 USD/tấn FOB Trung Quốc (loại D300-400).
  • Cuộn cán nóng HRC: Giá HRC ngày 09/08/2020 ở mức 480-485USD/T, CFR cảng Đông Á, tăng 50-60 USD/Tấn so với mức giá giao dịch đầu tháng 7/2020, sau khi giảmsâu ở mức 50-55 USD/tấn so với mức giá hồi đầu tháng 3/2020.Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 7/2020 và 7 tháng đầu năm 2020
    Tình hình sản xuất – bán hàng các sản phẩm thép:Tháng 7/2020:
  • Sản xuất thép các loại đạt hơn 2.106.562 tấn, tăng 7,7% so với tháng trước và ngang mức cùng kỳ 2019.
  • Bán hàng thép các loại đạt 1.955.784 tấn, tăng 11,25% so với tháng 6/2020, nhưng giảm 3,6% so với cùng kỳ 2019;
  • Trong đó, xuất khẩu thép các loại đạt 424.734 tấn, tăng 41,37% so với tháng trước, và tăng 16,2% so với cùng kỳ tháng 7/2019.Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 7/2020 và 7 tháng đầu năm 2020Tính chung 6 tháng đầu năm 2020:– Sản xuất thép các loại đạt hơn 13.728.271 tấn, giảm 6,9% so với  cùng kỳ 2019.-Bán hàng thép các loại đạt 12.366.349 tấn, giảm 9,6% so với cùng kỳ 2019. Trong đó, đặc biệt xuất khẩu thép các loại đạt 2.280.001 tấn, giảm 19,3% so với cùng kỳ năm 2019.Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 7/2020 và 7 tháng đầu năm 2020

Tình hình xuất nhập khẩu các sản phẩm thép tháng 5/2020:

Tình hình nhập khẩu:

-Nhập khẩu thép về Việt Nam trong tháng 6 năm 2020, đạt 1,19 triệu tấn với kim ngạch 653,1 triệu USD, tăng 14,3% về lượng và tăng 3,4% về trị giá so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước tăng 14,6% và giảm 9,4%.

-6 tháng đầu năm 2020, nhập khẩu thép về nước ta đạt 6,7 triệu tấn với trị giá trên 4,01 tỷ USD, giảm 6,2% về lượng và giảm 16,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019.

Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 7/2020 và 7 tháng đầu năm 2020

Tình hình xuất khẩu:

-Tháng 6 năm 2020, xuất khẩu thép của Việt Nam đạt 882 nghìn tấn với trị giá đạt 418,1 triệu USD, tăng mạnh 105,9% về lượng và tăng 70,3% về trị giá so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước cũng tăng lần lượt 74,9% và 23,6%.

-Trong tháng 6 năm 2020 mặt hàng thép các loại của Việt Nam được xuất khẩu trên 30 nước trên thế giới, trong đó, các thị trường xuất khẩu chính là ASEAN, Trung Quốc, Đài Loan, Hoa kỳ

Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 7/2020 và 7 tháng đầu năm 2020

(Trích Bản tin Hiệp hội Thép tháng 8/2020)

Tin tức thép Miền Bắc Nosco JSC

Duy trì tăng giá, thép thanh đạt ngưỡng mới trên Sàn Thượng Hải

Giá thép hôm nay tiếp đà tăng nhẹ trên Sàn Thượng Hải. Thép thanh hiện đạt mức 3.755 nhân dân tệ/tấn, tăng 7 nhân dân tệ so với phiên giao dịch trước đó.

Giá thép hôm nay tiếp đà tăng nhẹ

Giá thép hôm nay giao tháng 10 trên Sàn giao dịch Thượng Hải tăng 7 đồng nhân dân tệ lên 3.755 nhân dân tệ/tấn tại thời điểm khảo sát vào lúc 9h00 (giờ Việt Nam).

Hợp đồng thép cuộn cán nóng được giao dịch nhiều nhất trong tháng 10, đóng cửa ở mức 3.788 nhân dân tệ/tấn, tăng 21 nhân dân tệ so với phiên trước đó.

Tên loạiKỳ hạnNgày 30/7Chênh lệch so với ngày hôm qua
Giá thépGiao tháng 103.7557
Giá đồngGiao tháng 951.900-160
Giá kẽmGiao tháng 918.735290
Giá nikenGiao tháng 10110.310-1.220
Giá bạcGiao tháng 125.729-259

Bảng giá giao dịch tương lai của một số kim loại trên sàn Thượng Hải (Đơn vị: nhân dân tệ/tấn). Tổng hợp: An Nhiên

Trên Sàn giao dịch Đại Liên, hợp đồng quặng sắt tương lai (giao tháng 9) chốt phiên trong ngày thứ Tư (29/7) ở mức 841,5 nhân dân tệ/tấn, tăng 19 nhân dân tệ (tương đương 2,72 USD) so với phiên giao dịch trước đó.

Tổng khối lượng giao dịch của 12 hợp đồng quặng sắt tương lai được niêm yết trên sàn giao dịch là 806.626 lô với doanh thu 65,5 tỷ nhân dân tệ, Tân Hoa Xã đưa tin.

Tại Mỹ, nhiều doanh nghiệp thép đang vật lộn để tồn tại trong hoàn cảnh hiện tại. Nhu cầu tiêu thụ suy yếu cộng với giá thấp đang gây ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận bán lại và tình hình tài chính của các nhà sản xuất thép. Một số công ty sẽ đóng cửa vĩnh viễn do hậu quả của đại dịch COVID-19.

Bên cạnh đó, các nhà sản xuất thép sử dụng qui trình lò cao tại Mỹ cũng gặp khó khăn trong việc kiếm lợi nhuận. Công suất của nhiều nhà máy đang tăng chậm, kể từ khi chạm đáy vào đầu tháng 5 năm nay.

Bên cạnh đó, các nhà máy với qui mô vừa và nhỏ đang hoạt động tốt hơn so với những nhà máy sản xuất tích hợp do có tính linh động cao hơn.

Hiện tại, các nhà sản xuất thép đang muốn khởi động lại lò cao nhằm cải thiện năng suất hoạt động của nhà máy. Tuy nhiên, nếu sản xuất tăng quá nhanh sẽ kìm hãm các triển vọng phục hồi giá, đồng thời làm giảm thêm lợi nhuận.

Tác động của đại dịch COVID-19 và sự kiện bầu thử tổng thống sắp diễn ra vào tháng 11 có khả năng sẽ hạn chế sự phục hồi của ngành thép trong giai đoạn nửa cuối năm 2020. Theo đó, giá sắt thép tại Mỹ sẽ còn tiếp tục giảm vào thời gian tới.

Dự báo, nền kinh tế Mỹ sẽ trở lại mức trước đại dịch trong khoảng thời gian từ 1 đến 5 năm, tùy thuộc vào diễn biến tiếp theo của dịch bệnh, thông tin từ MEPS.

Duy trì tăng giá, thép thanh đạt ngưỡng mới trên Sàn Thượng Hải

Giá thép xây dựng hôm nay 30/7 (Ảnh: Google)

Còn tại Italia, Chủ tịch Liên đoàn thép Federacciai, ông Alessandro Banzato cho biết, ngành sản xuất thép dự kiến sẽ giảm khoảng 15% trong năm nay do nhu cầu tiêu thụ ngày càng suy yếu, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất ô tô.

Nước này cũng đã đóng cửa tất cả các nhà máy thép của mình, ngoại trừ ArcelorMittal Italia và Arvedi trong gần hai tháng, kể từ thời điểm giữa tháng 3 năm nay.

ArcelorMittal Italia – nhà sản xuất thép phẳng lớn nhất của Italia, đang vận hành với sản lượng thấp nhất trong lịch sử. Nhà máy này dự kiến sẽ sản xuất khoảng 3,5 triệu tấn thép thô trong năm nay, so với mức 5 triệu tấn được ghi nhận vào năm 2019.

Ngành công nghiệp thép của Italia đã chịu những ảnh hưởng nặng nề kể từ tháng 2/2020. Tuy nhiên, một vài dấu hiệu phục hồi đã được ghi nhận khi nhu cầu tiêu thụ trong ngành xây dựng và sản xuất ô tô dần tăng lên.

Theo dữ liệu mới nhất của nửa đầu năm nay, EU đã sản xuất 68,3 triệu tấn thép thô, ít hơn 18,7% so với một năm trước đó.

(Nguồn: vietnambiz.vn)

Tin tức thép Miền Bắc Nosco JSC

Các nhà máy phế liệu và thép cây của Đài Loan điều chỉnh giá để phản ánh chi phí

Tin tức thép Miền Bắc Nosco JSC

Giá phế liệu nhập khẩu ở Đài Loan đã liên tục tăng trong vài tuần này, điều này khiến các nhà máy thép trong nước không thể giữ giá thép và phế liệu của họ nữa khi chi phí nguồn tiếp tục tăng.

Ngoài ra, nhu cầu về nguyên liệu thô thấp do hạn chế sản xuất dưới phát thải năng lượng. Tình trạng thời tiết khắc nghiệt gần đây với nhiệt độ cao và mưa lớn đột ngột cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cả công nhân và tiến độ sản xuất tại các nhà máy thép, và việc giao hàng phải bị trì hoãn.

Trong tuần trước, Feng Hsin Steel Co., Ltd., một trong những nhà máy lò hồ quang điện lớn ở Đài Loan đã giữ nguyên giá với giá phế liệu được duy trì ở mức 7.500-8.000 Đài tệ/tấn, trong khi giá thép hình vẫn ở mức 20.100 Đài tệ/tấn và giá thép cây cũng được giữ ở mức 14.600 Đài tệ/tấn.

Việc điều chỉnh giá tuần này phù hợp với ước tính của những người tham gia thị trường.

(Nguồn: Satthep.net)

Tin tức thép Miền Bắc Nosco JSC

Giá quặng sắt tại Đại Liên tăng

Tin tức thép Miền Bắc Nosco JSC

Giá quặng sắt tăng 1,5%. Giá quặng sắt 62% Fe giao ngay không thay đổi ở mức 109,5 USD/tấn. Giá thép tại Thượng Hải tăng.

Số liệu từ Hiệp hội Sắt và Thép Trung Quốc (CISA), chỉ số quặng sắt (CIOPI) của nước này đạt 390,20 điểm hôm 28/7/2020, tăng 0,12% tương đương 0,48 điểm so với chỉ số trước đó hôm 27/7/2020.

Trong số đó, chỉ số giá quặng sắt thị trường nội địa đạt 357,14 điểm, giảm 0,03% tương đương 0,11 điểm so với chỉ số giá trước đó, chỉ số giá quặng sắt nhập khẩu đạt 396,45 điểm, tăng 0,15% tương đương 0,59 điểm so với chỉ số trước đó.

Giá quặng sắt tại Đại Liên ngày 29/7/2020 tăng phiên thứ 2 liên tiếp, do sản lượng tại các nhà máy thép tăng thúc đẩy hoạt động mua quặng sắt.

Giá quặng sắt kỳ hạn tháng 9/2020 trên sàn đại Liên tăng 1,5% lên 835 CNY (119,24 USD)/tấn, trong phiên có lúc tăng 1,3% lên 834 CNY/tấn.

Tính đến ngày 24/7/2020, công suất sử dụng tại các lò cao của 247 nhà máy thép Trung Quốc tăng lên 93,08% từ mức 92,96% tuần trước đó, công ty tư vấn Mysteel cho biết.

Các nhà máy sản xuất lò cao vẫn được hưởng lợi bởi nhu cầu quặng sắt không giảm, ngoài ra tồn trữ quặng sắt tại các cảng tiếp tục giảm, Tianfeng Futures cho biết.

Trên sàn Thượng Hải, giá thanh cốt thép kỳ hạn tháng 10/2020 tăng 0,4% lên 3.756 CNY/tấn, giá thép cuộn cán nóng tăng 0,5% lên 3.787 CNY/tấn. Giá thép không gỉ tăng 0,1% lên 13.780 CNY/tấn.

Giá quặng sắt 62% Fe giao ngay sang Trung Quốc không thay đổi ở mức 109,5 USD/tấn.

Giá các nguyên liệu sản xuất thép khác đều tăng, với than luyện cốc tăng 0,1% lên 1.222 CNY/tấn và giá than cốc tăng 0,2% lên 1.972 CNY/tấn.

Các thông tin khác:

Thép ống: Trong tháng 5/2020, Mỹ xuất khẩu 3.800 tấn thép ống, giảm 34,6% so với tháng 4/2020 trong khi tăng 25,8% so với tháng 5/2019.

Trong số đó, xuất khẩu sang Canada chiếm phần lớn đạt 2.300 tấn, giảm so với 3.044 tấn tháng 4/2020 song tăng so với 1.168 tấn tháng 5/2019. Xuất khẩu sang các nước khác đạt ít hơn 1.000 tấn.

Thép thô: Cơ quan Thống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS) cho biết, sản lượng thép thô tại 31 tỉnh của nước này đạt 502,56 triệu tấn.

Trong số đó, sản lượng tại tỉnh Hà Bắc đứng hàng đầu đạt 122,48 triệu tấn, tỉnh Giang Tô và Sơn Đông đứng thứ 2 và thứ 3 đạt 56,25 triệu tấn và 38,84 triệu tấn. 

(Nguồn: vinanet.vn)

Tin tức thép Miền Bắc Nosco JSC

Giá thép tại Trung Quốc tăng do nhu cầu giảm

Tin tức thép Miền Bắc Nosco JSC

Giá thanh cốt thép, thép cuộn cán nóng tại Thượng Hải tăng. Giá quặng sắt tại Đại Liên tăng hơn 1,6%. Nhu cầu thép dự kiến sẽ tăng do tiêu thụ nội địa.

Số liệu từ Hiệp hội Sắt và Thép Trung Quốc (CISA), chỉ số quặng sắt (CIOPI) của nước này đạt 389,71 điểm hôm 27/7/2020, giảm 0,89% tương đương 3,48 điểm so với chỉ số trước đó hôm 24/7/2020.

Trong số đó, chỉ số giá quặng sắt thị trường nội địa đạt 357,25 điểm, tăng 0,02% tương đương 0,01 điểm so với chỉ số giá trước đó, chỉ số giá quặng sắt nhập khẩu đạt 395,85 điểm, giảm 1,04% tương đương 4,15 điểm so với chỉ số trước đó.

Giá thép tại Trung Quốc ngày 28/7/2020 tăng, rời chuỗi giảm 3 phiên liên tiếp do triển vọng nhu cầu tại các lĩnh vực cơ sở hạ tầng và bất động sản tăng.

Trên sàn Thượng Hải, giá thanh cốt thép kỳ hạn tháng 10/2020 tăng 0,5% lên 3.769 CNY (539,02 USD)/tấn. Giá thép cuộn cán nóng tăng 0,6% lên 3.789 CNY/tấn. Giá thép không gỉ tăng 0,2% lên 13.810 CNY/tấn.

Giá thép tăng chủ yếu được thúc đẩy bởi nhu cầu nội địa, Tang Binghua, nhà phân tích thuộc Founder CIFCO Futures cho biết.

Trên sàn Đại Liên, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 9/2020 tăng 1,6% lên 835 CNY/tấn.

Giá quặng sắt 62% Fe giao ngay sang Trung Quốc giảm xuống 109,5 USD/tấn từ mức 111,5 USD/tấn trong phiên trước đó.

Trên sàn Đại Liên, giá than luyện cốc giảm 0,7% trong khi giá than cốc tăng 0,2%.

Các thông tin khác:

Thép CRC: Trong tháng 5/2020, Thổ Nhĩ Kỳ đã nhập khẩu 50.300 tấn thép cuộn cán nguội (CRC), tăng 61,6% so với tháng 4/2020, trong khi giảm 32% so với tháng 5/2019.

Trong số đó, nhập khẩu từ Nga chiếm phần lớn đạt 16.500 tấn, giảm 44,78% so với tháng 5/2019, sang Hàn Quốc đạt 9.500 tấn tăng 745%, sang Italia đạt 4.100 tấn giảm 49,83%.

Trong 5 tháng đầu năm 2020, nhập khẩu thép CRC của Thổ Nhĩ Kỳ đạt 315.000 tấn, tăng 7,21% so với cùng kỳ năm ngoái.

Thép HRC: Trong tháng 5/2020, nhập khẩu thép cuộn cán nóng (HRC) của Thổ Nhĩ Kỳ đạt 177.300 tấn, giảm 37,2% so với tháng 5/2019.

Trong số đó, nhập khẩu từ Ukraine chiếm phần lớn đạt 57.000 tấn tăng 26,96%. Nga đứng thứ hai đạt 40.000 tấn tăng 44,97%. Pháp đứng thứ 3 đạt 27.000 tấn, giảm 26,92%, tiếp theo là Hàn Quốc đạt 14.000 tấn, so với 100 tấn tháng 5/2019.

Trong 5 tháng đầu năm 2020, nhập khẩu thép HRC của Thổ Nhĩ Kỳ đạt 1,2 triệu tấn, giảm 21,2% so với cùng kỳ năm ngoái.

Thép thương phẩm: E-Sheng Steel Co., một trong những nhà sản xuất thép thương phẩm tại Đài Loan (TQ) công bố giữ giá thép thương phẩm không thay đổi trong tuần này.

Theo đó, giá thép thanh góc SS400 kích thước nhỏ ở mức 18.900-19.900 NTD/tấn, thép thanh chuỗi A36 ở mức 18.900 NTD/tấn, thép thanh phẳng A36 và SS400 ở mức 18.900-20.800 NTD/tấn, quặng cục A36 ở mức 16.900-17.900 NTD/tấn.

Thép thô: Thống kê từ Viện Sắt và Thép Mỹ (AISI), trong tuần kết thúc ngày 25/7/2020, sản lượng thép thô của nước này đạt 1,32 triệu tấn, tăng 1,1% so với tuần trước đó, trong khi giảm 28,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Công suất sử dụng đạt 58,9%, tăng 0,6% so với tuần trước đó, song giảm 20,5% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tính đến tuần kết thúc ngày 25/7/2020, sản lượng thép thô của Mỹ đạt 44,55 triệu tấn, giảm 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Công suất sử dụng đạt 66,1%, giảm 14,8% so với cùng kỳ năm ngoái.

Thép không gỉ: Trong tháng 6/2020, Trung Quốc nhập khẩu 179.000 tấn thép không gỉ, tăng 36,93% so với tháng 5/2020.

Trong số đó, nhập khẩu từ Indonesia chiếm phần lớn đạt 141.000 tấn, tăng 79% so với tháng 5/2020.

Xuất khẩu thép không gỉ của Trung Quốc trong tháng 6/2020 đạt 224.000 tấn, giảm 11,35% so với tháng 5/2020.  

(Nguồn: vinanet.vn)

  • GÓP Ý

    Contact Form

  • Giờ làm việc: 8:00 - 17:30