Danh mục : Thị Trường

Giá thép phục hồi sau khi giảm 3% trước đó do lo ngại nhu cầu

Giá thép phục hồi sau khi giảm 3% trước đó do lo ngại nhu cầu

Giá thép thanh giao tháng 5 trên Sàn giao dịch Thượng Hải tăng 38 nhân dân tệ lên 3.358 nhân dân tệ/tấn vào lúc 9h10, ngày 4/4 (giờ Việt Nam).

Giá thép xây dựng hôm nay (4/4): Phục hồi sau khi giảm 3% trước đó do lo ngại nhu cầu - Ảnh 1.

Giá thép thanh giao tháng 5 trên Sàn giao dịch Thượng Hải tăng 38 nhân dân tệ lên 3.358 nhân dân tệ/tấn vào lúc 9h10 (giờ Việt Nam).

Hợp đồng thép giao sau tại Trung Quốc tăng trong phiên giao dịch thứ Năm (2/4) sau khi giảm hơn 3% trước đó do lo ngại nhu cầu bị tác động bởi đại dịch virus corona.

Hợp đồng thép cuộn cán nóng tăng 0,4% lên 3.220 nhân dân tệ/tấn (tương đương 453,63 USD/tấn), xóa bỏ mức giảm trước đó nhưng vẫn đánh dấu mức giá đóng cửa phiên thấp nhất kể từ ngày 12/11, theo Business Recorder.

Hợp đồng thép thanh xây dựng giao tháng 5 tăng 0,2% lên 3.377 nhân dân tệ/tấn. Giá thép không gỉ giao tháng 6 giảm 0,3% xuống 11.955 nhân dân tệ/tấn.

Giá quặng sắt giao sau trên Sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên cũng phục hồi sau khi giảm 3% trước đó, kết thúc phiên tăng 0,9% lên 647 nhân dân tệ/tấn.

Giá thép đã giảm sau khi giá nguyên liệu thô giảm. Tang Binghua, chuyên gia nhà phân tích của CIFCO Futures, cho biết sự sụt giảm trong đầu phiên là do nhu cầu chậm chạp và việc điều chỉnh thị trường.

Giá quặng sắt hàm lượng sắt 62% giảm 1 USD xuống còn 83,5 USD/tấn vào thứ Tư (1/4). 

Giá các nguyên liệu sản xuất thép khác giao dịch trái chiều, với giá than mỡ giảm 0,9% xuống 1.233 nhân dân tệ/tấn trong khi giá than cốc tăng 0,2% lên 1.750 nhân dân tệ/tấn. 

Trung Quốc đang xem xét việc tạm thời nới lỏng hạn ngạch để thúc đẩy sản xuất ô tô điện để giúp các nhà sản xuất ô tô bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch virus corona ngằm vực dậy doanh số sụt giảm.

Công ty khai thác mỏ Vale SA, Brazil ngày 1/4 cho biết họ đang thử nghiệm các giải pháp thay thế ngắn hạn đối với các đập chất thải, nếu khả thi sẽ cho phép tăng công suất của mỏ Brucutu lên 80% từ mức 40% hiện nay.

Doanh số bán xe hạng nhẹ tại Mỹ giảm gần 27% trong tháng 3 so với tháng trước đó, theo dữ liệu được công bố bởi một nhóm nghiên cứu ô tô.

(Nguồn: vietnambiz.vn)

tin tức thép miền bắc

Giá thép cuộn cán nóng giảm mạnh do lo ngại nhu cầu

Giá thép thanh giao tháng 5 trên Sàn giao dịch Thượng Hải giảm 65 nhân dân tệ xuống 3.306 nhân dân tệ/tấn vào lúc 9h40 (giờ Việt Nam).

Giá thép xây dựng hôm nay (2/4): Giá thép cuộn cán nóng giảm mạnh do lo ngại nhu cầu - Ảnh 1.

Giá théthanh giao tháng 5 trên Sàn giao dịch Thượng Hải giảm 65 nhân dân tệ xuống 3.306 nhân dân tệ/tấn vào lúc 9h40 (giờ Việt Nam).

Chốt phiên thứ Tư (1/4), giá thép thanh xây dựng giao tháng 5 kéo dài đà giảm sang phiên thứ ba, giảm 1,6% xuống 3.352 nhân dân tệ/tấn, theo Reuters.

Hợp đồng tương lai cuộn cán nóng (HRC) tại Trung Quốc giảm mạnh, chạm mức thấp nhất trong 3,5 tháng, do đại dịch virus corona làm giảm nhu cầu trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang chậm lại.

Hợp đồng thép cuộn nóng giao tháng 5 tại Sàn giao dịch Thượng Hải giảm 2,3% xuống 3.186 nhân dân tệ/tấn (tương đương 449,03 USD/tấn), mức thấp nhất kể từ ngày 13/11/2019.

Giá thép không gỉ giao tháng 6 tăng 0,1% lên 11.985 nhân dân tệ/tấn.

Zhao Yu, chuyên gia phân tích của Huatai Futures, cho biết nhu cầu hạ nguồn đối với HRC, chủ yếu từ các lĩnh vực sản xuất như ô tô và thiết bị gia dụng, không ổn định .

Các nhà sản xuất ô tô lớn đã ngừng hoạt động tại các nhà máy ở Bắc Mỹ khi các tập đoàn bị ảnh hưởng bởi virus corona.

Xuất khẩu các sản phẩm thép của Trung Quốc trong 2 tháng đầu năm giảm 27%.

Trong khi đó, hợp đồng quặng sắt trên Sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên cũng sụt giảm 1,7% xuống 639 nhân dân tệ/tấn khi công ty khai thác mỏ Vale SA, Brazil cho biết việc nối lại hoạt động sản xuất có thể bị hoãn do virus corona.

Chứng khoán CITIC dự kiến nhu cầu quặng sắt ở Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu có thể giảm 20 triệu tấn trong quý II..

Giá quặng sắt hàm lượng 62% ở mức 84,5 USD/tấn vào thứ Ba (31/3), không thay đổi so với phiên trước đó.

Giá than mỡ giảm 0,9% xuống 1.244 nhân dân tệ/tấn và giá than cốc giảm 2,1% xuống 1.731 nhân dân tệ/tấn.

Hoạt động của các nhà máy Trung Quốc đã cải thiện vào tháng 3 sau khi giảm mạnh trong tháng trước đó nhưng sự tăng trưởng bị hạn chế bởi áp lực đối với các doanh nghiệp khi đại dịch virus corona khiến nhiều quốc gia trên toàn cầu phải phong tỏa.

Hơn 850.000 ca nhiễm virus corona trên toàn thế giới và hơn 40.000 người tử vong.

(Nguồn: vietnambiz.vn)

tin tức Thép Miền tin

Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 2/2020 và 2 tháng năm 2020

Trước tình hình khó khăn chung của các ngành kinh tế trong bối cảnh dịch coronavirus Covid-19, ngành thép tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn. Sản xuất và bán hàng thép trong nước 02 tháng đầu năm 2020 lần lượt có mức trăng trưởng âm là 5,3% và 17,8% so với cùng kỳ năm 2019. Tuy nhiên loại trừ tăng trưởng của thép cuộn cán nóng (HRC) thì sản xuất ngang mức 2019 trong khi bán hàng là giảm 18%.

Tình hình thị trường nguyên liệu sản xuất thép:

  • Quặng sắt loại 62%Fe: Giá quặng sắt ngày 07/03/2020 giao dịch ở mức 89 USD/Tấn CFR cảng Thiên Tân, Trung Quốc, tăng khoảng 6 USD/tấn so với đầu tháng 2/2020.
  • Than mỡ luyện coke: Giá than mỡ luyện cốc, xuất khẩu tại cảng Úc (giá FOB)  ngày 07/03/2020: Hard coking coal: khoảng 146USD/tấn, tăng khoảng 8 USD/tấn so với đầu tháng 2/2020
  • Thép phế liệu: Giá thép phế HMS ½ 80:20 nhập khẩu cảng Đông Á ở mức 270-270 USD/tấn CFR Đông Á ngày 7/3/2020. Mức giá này tương đương so với hồi đầu tháng 2/2020. Nhìn chung, giá thép phế chào bán tại tất cả các thị trường Châu Á, Châu Mỹ và Châu Âu đều có xu hướng đi ngang và giảm.
  • Điện cực graphite: Nhìn chung, giá than điện cực trong tháng 2 năm 2020 tương đối ổn định.
    Mức giá giao dịch trung bình là khoảng 2.500-3.000 USD/tấn FOB Trung Quốc (loại nhỏ). Tuy nhiên, do tác động của dịch coronavirut, việc sản xuất và cung ứng than điện cực hạn chế sẽ dẫn đến giá than điện cực có xu hướng tăng trong thời gian tới.
  • Cuộn cán nóng HRC: Giá HRC ngày 08/03/2020 ở mức 459-460 USD/T, CFR cảng Đông Á, giảm ~10 USD/tấn với ngày 8/02/2020. Mức giá này tương đương với hồi đầu năm 2019. Trong khoảng 2 năm trở lại đây, mức giá đạt cao nhất được ghi nhận là ~620 USD/Tấn vào hồi đầu tháng 3/2018.
Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 2/2020 và 2 tháng năm 2020

Tình hình sản xuất – bán hàng các sản phẩm thép:

Tháng 2/2020:

  • Sản xuất thép các loại đạt hơn 1.961.057 tấn, tăng 18,81% so với tháng trước và tăng 17,1% so với cùng kỳ 2019.
  • Bán hàng thép các loại đạt 1.608.229 tấn, tăng 17,86% so với tháng 1/2020, nhưng giảm 2,5% so với cùng kỳ 2019; Trong đó, xuất khẩu thép các loại đạt 345.705 tấn, tăng 21,9% so với tháng trước, nhưng giảm 17% so với cùng kỳ tháng 2/2019.
Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 2/2020 và 2 tháng năm 2020

Tính chung 2 tháng/ 2020:

  • Sản xuất thép các loại đạt hơn 3.611.580 tấn, giảm 5,3% so với  cùng kỳ 2019;
  • Bán hàng đạt 2.972.710 tấn, giảm 17,8% so với cùng kỳ 2019.
  • Trong đó, xuất khẩu thép các loại đạt 602.723 tấn, giảm 31% so với 2 tháng đầu năm 2019.
Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 2/2020 và 2 tháng năm 2020

Tình hình xuất nhập khẩu các sản phẩm thép tháng 1/2020:

  • Tính đến hết tháng 01/2020, nhập khẩu sắt thép các loại vào Việt Nam khoảng 945 triệu tấn, trị giá 570 triệu USD. Về lượng, giảm 20,9% so với tháng 12/2019, giảm 18% so với cùng kỳ 2019; Về trị giá giảm lần lượt so với tháng trước và cùng kỳ 2019 lần lượt là 21% và 29%.
  • Ấn Độ trở thành quốc gia cung cấp thép lớn nhất cho Việt Nam trong tháng 1/2020, chiếm 23% tổng lượng thép nhập khẩu của cả nước. Sản lượng thép nhập khẩu từ Ấn Độ đạt 218 ngàn tấn với trị giá 95 triệu tấn, giảm 33% về lượng so với tháng 12/2019 và tăng mạnh 600% so với cùng kỳ năm 2019.
Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 2/2020 và 2 tháng năm 2020

Tình hình xuất khẩu:

  • Tháng 1/2020, Việt Nam xuất khẩu ra thị trường nước ngoài đạt 483 ngàn tấn, với kim ngạch đạt 266 triệu USD. So với tháng 12/2019 và so với cùng kỳ năm 2019, lượng xuất khẩu trên giảm lần lượt là 27% và 37% về lượng.
  • Về trị giá xuất khẩu thép tháng 1/2020 đạt 266 triệu USD, giảm mạnh lần lượt so với tháng 12/2019 và cùng kỳ năm trước là 26% và 45%.
Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 2/2020 và 2 tháng năm 2020

(Theo Bản tin Hiệp hội Thép tháng 3/2020)

Tin tức Thép Miền Bắc

Tổng quan thị trường thép toàn cầu – tháng 1/2020

Hoạt động thị trường thép chậm lại ở Trung Quốc trước kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. Kỳ nghỉ lễ năm nay đã có một khởi đầu đáng lo ngại, với sự xuất hiện của virus Vũ Hán làm giảm tình hình thị trường tương lai.

Bối cảnh tháng 1/2020, Virus corona từ Vũ Hán, Trung Quốc làm hoảng loạn thị trường trước Tết nguyên đán

Hoạt động thị trường thép đã chậm lại ở Trung Quốc trước kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, mặc dù chính thức chỉ kéo dài một tuần nhưng giống như 2-3 tuần do cách đi lại được đặt so le để tránh đông đúc. Tuy nhiên, kỳ nghỉ lễ năm nay đã có một khởi đầu đáng lo ngại, với sự xuất hiện của virus Vũ Hán làm giảm tình hình thị trường tương lai. Mọi người trên thị trường đang nói về tác động tiềm tàng đối với hoạt động xây dựng khi virus trở nên tồi tệ hơn. Công nhân ở tỉnh Hồ Bắc đã được yêu cầu ở nhà và những người khác đang tránh các thành phố có số người nhiễm bệnh gia tăng.

Ở Mỹ, nhu cầu đang vật lộn để theo kịp với sự tăng vọt của giá thép. Nhà ở ở Mỹ bắt đầu tích cực hơn, tăng gần 17% so với tháng trước lên mức cao nhất trong 13 tháng, cho thấy hoạt động xây dựng mạnh mẽ.

Tại Liên minh châu Âu, giá thép đang được hưởng lợi từ việc cắt giảm sản lượng và một số nhu cầu hạ nguồn dồn nén trong lĩnh vực xây dựng và ô tô.

Triển vọng

Platts đánh giá HRC SAE1006 ở mức $508/tấn FOB Trung Quốc và $515/tấn CFR Đông Nam Á trong tuần thứ ba của tháng 1 trước khi thị trường chậm lại. Người bán Trung Quốc thấy mình cạnh tranh với nguyên liệu từ Ukraine, mặc dù hầu hết người mua Việt Nam không muốn mua sản phẩm mà họ không quen thuộc. Tâm lý thị trường giảm và các nhà máy thép và thương nhân bán vào khu vực đang hy vọng nhu cầu tăng hơn vào cuối tháng 2.

Giá HRC của Hoa Kỳ ổn định trên $600/tấn nhưng các chào giá đã bị ràng buộc do thiếu hoạt động mua hàng. Giá HRC của Mỹ tăng $134,50/tấn so với mức đáy trong tháng 10/2019. Kỳ vọng giá phế liệu giảm hơn cho tháng 2 và tháng 3 và nhu cầu giảm cho thấy giá cuộn thép có thể chịu áp lực.

Thị trường HRC phía bắc châu Âu đã chứng kiến ​​sự phục hồi, phần lớn là do nguồn cung chặt chẽ hơn từ việc cắt giảm công suất. Nhưng lo ngại là giá có thể sụp đổ khi các nhà máy bắt đầu khởi động lại lò.

Tại Ấn Độ, giá giao ngay HRC trong nước đã tìm thấy một số hỗ trợ ở mức 38.000/tấn ($536,33/tấn) do hoạt động bổ sung kho đã thắt chặt nguồn cung. Nhưng nhu cầu từ người sử dụng cuối cùng vẫn không thuyết phục.

Tại Thổ Nhĩ Kỳ, các nhà sản xuất thép dài đã giảm sản lượng do nhu cầu xuất khẩu chậm. Giá khả thi cho thép thanh giảm do giá phế liệu thấp hơn. Platts đánh giá thép cây xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ ở mức $435/tấn FOB Thổ Nhĩ Kỳ vào giữa tháng 1.

Giá thép cây châu Á ổn định ở mức $465/tấn FOB Trung Quốc trước khi thị trường chậm lại trước kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. Các kho thép cây ở Trung Quốc đã tăng lên trong những tuần gần đây do hoạt động xây dựng chậm hơn trong những tháng lạnh giá. Với áp lực nguồn cung và sự chậm lại theo mùa, giá thép cây nhập khẩu châu Á và trong nước Trung Quốc có thể sẽ giảm hơn nữa trong tháng 2.

Giá nhập khẩu phế liệu Thổ Nhĩ Kỳ vẫn chịu áp lực với người bán không chấp nhận giá thầu thấp hơn từ các nhà sản xuất thép Thổ Nhĩ Kỳ. Platts đánh giá nhập khẩu phế liệu nóng chảy cao cấp của Thổ Nhĩ Kỳ 1/2 (80:20) ở mức $288,50/tấn CFR vào ngày 21/1.

Giá quặng sắt đường biển châu Á ổn định ở khoảng $95/tấn khô CFR trong tuần giáp Tết Nguyên đán, được hỗ trợ bởi những lo ngại về nguồn cung do lốc xoáy và mưa ở Úc và Brazil.

Sản phẩm thép dài

Nhu cầu và chiến lược của các nhà máy Trung Quốc sẽ quyết định hướng giá cả thị trường trong quý đầu năm 2020.

Các nhà sản xuất và xuất khẩu thép cây Thổ Nhĩ Kỳ phải đối mặt với các khoản thuế đối kháng không đổi ở Mỹ, một thông báo sơ bộ của Bộ Thương mại cho biết. Nếu được hoàn thành, mức thuế đối kháng mới, xuất phát từ rà soát hành chính của năm 2017, hầu như sẽ không được thay đổi so với mức giá CVD cuối cùng được thiết lập vào tháng 7/2019 sau rà soát hành chính trước đó.

Các nguồn thị trường dự đoán năm 2020 sẽ sáng hơn một chút đối với các nhà sản xuất thép dài ở châu Âu, chủ yếu do nhu cầu biểu kiến mạnh mẽ hơn, sau một năm đầy thách thức vì sự quan tâm của người dùng cuối suy giảm trong năm 2019.

Mặc dù các nguồn thị trường không dự đoán năm 2020 sẽ khác về cơ bản so với năm trước, trong bối cảnh môi trường giá biến động liên tục, nhưng họ vẫn mong đợi nhu cầu tốt hơn vì người mua sẽ tăng kho hàng nhưng cũng vì hoạt động thu mua sẽ tiếp tục phục hồi chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng, một lĩnh vực quan trọng đối với sản phẩm thép dài.

Ở châu Á, thị trường thép cây trầm lắng khi sự quan tâm mua chậm lại ở các thị trường trong khu vực, Singapore và Hồng Kông.

Tại Đông Nam Á, Hòa Phát, tập đoàn thép lớn của Việt Nam, đã đặt mục tiêu doanh số bán thép xây dựng cao hơn trong năm 2020, với kế hoạch đạt khối lượng 3,5-3,6 triệu tấn năm 2020, tăng khoảng 26% so với 2,8 triệu tấn mà công ty cung cấp  năm 2019, số liệu từ nhà sản xuất thép này cho biết.

Trong một tin tức liên quan, Công ty Hilco Industrial Acquisitions, một phần của công ty dịch vụ tài chính Hilco Global có trụ sở tại Hoa Kỳ cho biết họ đã mua một nhà máy cán thép cây 500.000 tấn/năm từ nhà sản xuất thép Việt Nam, Posco SS Vina, và thêm rằng những người mua tiềm năng từ Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập và các nước khác của Trung Đông đã thể hiện sự quan tâm đến việc mua nhà máy.

Cuộn thép (Coils)

Các thị trường cuộn cán nóng của Mỹ đã có một khởi đầu tốt trong năm mới khi các nhà máy vẫn vững vàng với các chào hàng sau thông báo tăng giá.

Giá HRC đã quay trở lại từ thời gian tạm nghỉ vào cuối tháng 12 và đầu tháng 1 với đà tăng mới trong bối cảnh giá phế liệu tăng trong tháng 1 và giá thép thành phẩm tăng.

Ở châu Á, thị trường HRC cũng vững chắc hơn khi phản ánh những chào giá cao hơn từ các nhà máy Trung Quốc trong một thị trường xuất khẩu tích cực hơn.

Hầu hết các nhà máy Trung Quốc chào giá cuộn SS400 ở mức $505 – 510/tấn cho lô hàng tháng 3, trong khi một nhà máy ở phía bắc Trung Quốc chào giá $495/tấn FOB nhưng đó là cho lô hàng tháng 4, các nhà máy và thương nhân cho biết.

Giá xuất khẩu cuộn cán nguội Trung Quốc cũng tăng, song song với chào giá của các nhà máy cao hơn và một số thu mua từ người mua ở nước ngoài.

Platts đánh giá HRC SAE1006 ở mức $503/tấn FOB Trung Quốc, trong khi trên cơ sở CFR Đông Nam Á, cuộn thép cùng loại được đánh giá ở mức $515/tấn. SPCC loại 1 mm dày SPCC được đánh giá ở mức $ 540 / tấn FOB Trung Quốc.

Tại một thời điểm, mức chênh lệch giữa giá xuất khẩu CRC và HRC loại thương phẩm là $45/tấn. Các nhà máy hiện miễn cưỡng bán dưới mức  $540/tấn FOB cho CRC, đây là mức có thể giao dịch mà một số người dùng cuối ở thị trường nước ngoài có thể chấp nhận, một thương nhân miền đông Trung Quốc cho biết. Người mua sẽ phải bắt kịp khi giá đang tăng bên ngoài Trung Quốc, ông nói.

Tại Việt Nam, hoạt động thị trường vẫn chậm chạp khi những người tham gia tập trung vào đánh giá các chào giá mới cho lô hàng tháng 3 từ nhà sản xuất HRC Formosa Hà Tĩnh. Phù hợp với kỳ vọng của thị trường, FHS đã tăng chào giá cơ sở HRC bình quân tháng cho các lô hàng tháng 3 lên $520/tấn CIF Việt Nam đối với cuộn loại tái cán qua da, tăng $35/tấn từ tháng 12.

Nói về Việt Nam, công ty thép lớn, Hòa Phát dự kiến ​​tổ hợp thép Dung Quất tại tỉnh Quảng Ngãi, nơi đã có ​​hơn 80% các hạng mục thiết bị chính được xây dựng, để triển khai hoạt động hai lò cao bổ sung, mỗi lò công suất sản xuất hàng năm là 1,2 triệu tấn gang và nhà máy cán HRC từ quý hai năm 2020.

Khi cả bốn lò cao đều đi vào hoạt động, Nhà máy thép Dung Quất sẽ có 2,4 triệu tấn/năm công suất sản lượng  thép cuộn và thép cây, và công suất HRC 2,4 triệu tấn/năm.

Thép phế và Nguyên liệu thô

Thị trường phế liệu sắt thép quốc tế bắt đầu năm 2020 trên một xu hướng giảm trong bối cảnh tâm lý hỗn hợp hơn về hướng thị trường trong tương lai. Người mua Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục mua các lô hàng tháng hai ở mức hoặc dưới $300/tấn CFR cho HMS cao cấp 1/2 (80:20) – giao dịch chủ yếu đi ngang kể từ giữa tháng 12.

Tuy nhiên, những người tham gia thị trường kỳ vọng về giá cả khác nhau, với một số kỳ vọng giá ổn định sẽ cao hơn một chút với giá thu gom cao và thị trường nội địa mạnh mẽ của Mỹ, trong khi những người khác chỉ ra một thị trường sản phẩm chậm chạp ở Thổ Nhĩ Kỳ như một động lực cho giá thấp hơn. Các nhà máy Thổ Nhĩ Kỳ đã tiêu thụ khoảng 30 triệu tấn thép phế liệu mỗi năm và đang thu mua một phần ba trong số đó từ thị trường nội địa.

Giá quặng sắt vẫn mạnh

Giá quặng sắt đường biển đạt trung bình $93,4/tấn CFR trong năm 2019, tăng 35% so với $69,45/tấn trong năm 2018 do gián đoạn nguồn cung và sản lượng thép thô cực kỳ mạnh của Trung Quốc. Giá quặng cám 62% Fe đã tiếp tục quỹ đạo mạnh mẽ bước vào năm 2020 khi các nhà máy tái bổ sung kho hàng trước kỳ nghỉ Tết Nguyên đán.

Các nhà sản xuất thép của Trung Quốc đã và đang tìm kiếm các loại quặng chất lượng cao hơn, như quặng Carajas của Vale và quặng của Brazin. Các nhà máy thường chuyển sang nguyên liệu thô cao cấp hơn khi lợi nhuận thép mạnh và họ muốn giữ mức sản xuất cao.

Than luyện kim mạnh mẽ do hoạt động tái bổ sung kho

Giá than luyện kim châu Á-Thái Bình Dương đã tăng mạnh vào đầu tháng 1 do nhu cầu mạnh mẽ đối với than luyện cốc đưởng biển ở Trung Quốc. Platts đánh giá than luyện cốc cao cấp tăng $9,50/tấn so với tuần trước lên $152,50/tấn FOB Úc vào ngày 10 tháng 1. Giá giao cho Trung Quốc tăng $9,75/tấn lên $163/tấn CFR Trung Quốc.

Thị trường giao ngay thanh khoản hơn khi người mua Trung Quốc cố gắng bổ sung kho hàng trước kỳ nghỉ Tết Nguyên đán bắt đầu vào ngày 25 tháng 1. Các nhà sản xuất thép Trung Quốc đã tìm cách bảo đảm hàng hóa với giá rẻ hơn trong bối cảnh kỳ vọng giá sẽ tăng cao hơn sau nghỉ Tết.

Thép tấm

Ở châu Á, giá thép tấm đường biển tăng khi các nhà máy Trung Quốc tăng giá chào hàng phù hợp với thị trường thép dẹt rộng hơn và bất chấp khoảng cách giữa cung cấp và chỉ dẫn mua, trong khi người mua ở Hàn Quốc vẫn chậm bắt kịp.

Đánh giá giá của Platts cho thép tấm loại Q235/SS400, dày 12-25 mm ở mức $488/tấn CFR Đông Á.

Hoạt động giao dịch vẫn chậm sau kỳ nghỉ năm mới. Trên cơ sở FOB Trung Quốc, giá chào bán từ các nhà máy Trung Quốc đã tăng ở mức $490-505/tấn FOB cho các lô hàng tháng 3, so với $475-485/tấn FOB trước đây.

Sản lượng

Sản lượng thép thô của 64 nước báo cáo với Hiệp hội Thép Thế giới (worldsteel) tăng khiêm tốn trong năm 2019, tăng 3,5% so với năm trước. Các quốc gia này chiếm gần 99% tổng sản lượng thép thô thế giới năm 2018.

Sản lượng thép thô thế giới đạt 1,849 tỷ tấn năm 2019, so với sản lượng 1,786 tỷ tấn năm 2018.

Trung Quốc dẫn đầu sản xuất thép thô thế giới với tổng cộng 996,342 triệu tấn trong năm 2019, chiếm hơn 54% sản lượng thép toàn cầu.

Sản lượng gang của Trung Quốc tăng 5,3% so với năm trước đạt 809,37 triệu tấn trong năm 2019, tăng từ mức tăng trưởng 3% so với cùng kỳ năm 2018.

Các nguồn thị trường cho rằng sự gia tăng sản lượng thép thô và gang của Trung Quốc trong năm 2019 là do nới lỏng các hạn chế bảo vệ môi trường đối với sản xuất nhà máy thép, mở rộng công suất và nhu cầu nội địa mạnh mẽ, đặc biệt là từ ngành xây dựng.

(Theo: Hiệp hội thép Việt Nam)

tin tức Thép Miền Bắc

Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 1/2020

Trong bối cảnh thị trường toàn cầu trầm lắng, thị trường thép trong nước tháng 01 năm 2020 có mức tăng trưởng sản xuất và bán hàng thép âm lần lượt là 22,3% và 31% so với cùng kỳ năm 2019.

Tình hình thị trường nguyên liệu sản xuất thép:

  • Quặng sắt loại 62%Fe:Giá quặng sắt ngày 07/02/2020 giao dịch ở mức 83 USD/Tấn CFR cảng Thiên Tân, Trung Quốc, giảm khoảng 10 USD/tấn so với đầu tháng 1/2020.
  • Than mỡ luyện coke: Giá than mỡ luyện cốc, xuất khẩu tại cảng Úc (giá FOB) ngày 07/02/2020: Hard coking coal: khoảng 137USD/tấn, tăng khoảng 15 USD/tấn so với đầu tháng 1/2020
  • Thép phế liệu: Giá thép phế HMS ½ 80:20 nhập khẩu cảng Đông Á ở mức 270-275 USD/tấn CFR Đông Á ngày 7/2/2020. Mức giá giảm so với hồi đầu tháng 1/2020 là 10-15 USD/tấn. Tại các thị trường Châu Á, Châu Mỹ và Châu Âu giá thép phế đều có xu hướng đi ngang và giảm.
  • Điện cực graphite: Nhìn chung, giá than điện cực trong tháng 1 năm 2020 tương đối ổn định.
    Mức giá giao dịch trung bình là khoảng 2.500 USD/tấn FOB Trung Quốc (loại nhỏ). Tuy nhiên, do tác động của dịch coronavirut, việc sản xuất và cung ứng than điện cực hạn chế sẽ dẫn đến giá than điện cực có cu hướng tăng trong thời gian tới.
  • Cuộn cán nóng HRC: Giá HRC ngày 08/02/2020 ở mức 470-470 USD/T, CFR cảng Đông Á, giảm ~20 USD/tấn với ngày 8/01/2020.
Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 1/2020

Tình hình sản xuất – bán hàng các sản phẩm thép:

Tháng 1/2020:

  • Sản xuất đạt 1.665.273 tấn, giảm 26,21% so với tháng trước và giảm 22,3% so với cùng kỳ 2019.
  • Bán hàng đạt 1.368.009 tấngiảm 31,83% so với tháng trước, và giảm 30,2% so với cùng kỳ năm 2019.

+ Trong đó, xuất khẩu thép đạt 283.134 tấngiảm 21,34% so   với tháng 12/2019 và giảm 38% so với cùng kỳ năm 2019.

Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 1/2020
Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 1/2020

Tình hình xuất nhập khẩu các sản phẩm thép tháng 11/2019:

  • Tình hình nhập khẩu:-Tính đến hết 31/12/2019, nhập khẩu sắt thép các loại tăng 7,6% về lượng nhưng giảm 3,9% về kim ngạch so với năm 2018, đạt 14,56 triệu tấn, trị giá 9,51 tỷ USD.Nhập khẩu thép từ Trung Quốc – thị trường lớn nhất, giảm 18% về lượng, giảm 26,6% về kim ngạch và giảm 10,5% về giá so với năm 2018, đạt 5,14 triệu tấn, tương đương 3,3 tỷ USD. Tổng lượng sắt thép nhập khẩu của cả nước và chiếm 34,7% trong tổng kim ngạch.
  • Tình hình xuất khẩu:

– Năm 2019, Việt Nam xuất khẩu lượng sắt thép của Việt Nam xuất khẩu ra thị trường nước ngoài tăng 6,6% về lượng nhưng giảm 7,4% về kim ngạch và giảm 13,2% về giá so với năm 2018, đạt 6,68 triệu tấn, tương đương 4,21 tỷ USD.

– Việt Nam xuất khẩu chủ yếu sang các nước Đông Nam Á, chiếm 62,5% trong tổng lượng sắt thép xuất khẩu của cả nước và chiếm 59,7% trong tổng kim ngạch, đạt 4,17 triệu tấn, tương đương 2,52 tỷ USD.

Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 1/2020

(Theo Bản tin Hiệp hội Thép tháng 1/2020)

tin tuc nganh thep

Ngành thép 2020 tiếp tục tăng trưởng thấp dù ít áp lực giảm giá hơn; cạnh tranh thị phần sẽ tăng tốc

Ngành thép 2020 tiếp tục tăng trưởng thấp dù ít áp lực giảm giá hơn; cạnh tranh thị phần sẽ tăng tốc

Tựu chung, ngành thép giảm 4% về vốn hóa trong năm 2019 so với mức tăng 7,7% của VN-Index trong giai đoạn này. Giá cổ phiếu HPG giảm nhẹ 1% do lợi nhuận 9 tháng 2019 giảm do giá quặng sắt tăng đột biến. Mặt khác, giá cổ phiếu HSG tăng 32% so với mức giá sàn vào cuối năm 2018, nhờ tỷ suất lợi nhuận gộp hồi phục, SSI Research thống kê.

Nhu cầu chững lại đáng kể từ giữa năm 2019, xuất khẩu bị ảnh hưởng do sự lan rộng của xu hướng bảo hộ và giá thép giảm do nhu cầu cũng như xu hướng giá toàn cầu giảm, dẫn đến thua lỗ ở một số công ty sản xuất thép xây dựng là những tiêu điểm về thị trường thép năm 2019, ghi nhận bởi SSI Research.

Chi tiết, sau 1 năm lạc quan với mức tăng trưởng sản lượng thành phẩm đạt 10%  trong năm 2018, sản lượng tiêu thụ thép duy trì hiệu suất ổn định trong 4 tháng đầu năm 2019 với tổng mức tăng trưởng sản lượng đạt 11%. Sản lượng tiêu thụ trong nước tăng 15% so với cùng kỳ, do các hoạt động xây dựng từ các dự án của các năm trước và việc giá thép phục hồi khuyến khích các đại lý tích lũy hàng tồn kho.

Tuy nhiên, từ tháng 5 đến tháng 11, nhu cầu giảm đáng kể với tổng sản lượng tiêu thụ không thay đổi so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó sản lượng tiêu thụ trong nước tăng vừa phải ở mức 3,5%.

Nhìn chung, sản lượng tiêu thụ thành phẩm trong 11 tháng đầu năm 2019 tăng 3,5%; đạt 15,4 triệu tấn, trong đó thép xây dựng đạt 9,7 triệu tấn (+6,5%); trong khi sản lượng thép ống và tôn mạ không thay đổi đạt 5,6 triệu tấn.

Ngành thép 2020 tiếp tục tăng trưởng thấp dù ít áp lực giảm giá hơn; cạnh tranh thị phần sẽ tăng tốc - Ảnh 1.
2019 là một năm khó khăn nữa đối với xuất khẩu thép

Mặt khác, 2019 là một năm khó khăn nữa đối với xuất khẩu thép. Mặc dù sản lượng xuất khẩu thép xây dựng đạt mức tăng trưởng nhẹ 1,6% trong 9 tháng đầu năm 2019, sản lượng xuất khẩu thép ống và tôn mạ giảm đáng kể 19% so với cùng kỳ năm ngoái do sự lan rộng của xu hướng bảo hộ giữa các quốc gia để áp đặt các biện pháp hạn chế nhập khẩu thép. Thị trường Mỹ và EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai và thứ ba của Việt Nam đã giảm mạnh về sản lượng (-44%), chỉ chiếm 10% tổng sản lượng tiêu thụ trong 9T2019 so với mức 19% trong 9 tháng đầu năm 2018.

Sau khi phục hồi 6-7% trong 4 tháng đầu năm, giá thép xây dựng đã điều chỉnh 10% trong 7 tháng tiếp theo do nhu cầu và giá nguyên liệu thô giảm. Giá thép giảm ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận của các công ty sản xuất thép hiện tại, nhiều công ty đã giảm sâu tỷ suất lợi nhuận hoặc thua lỗ và phải cắt giảm sản lượng sản xuất, dẫn đến mất thị phần. Do đó, các công ty lớn có lợi thế hơn về chi phí sản xuất như HPG đã tận dụng được tình huống này đề giành thị phần nhiều hơn.

Mặt khác, tỷ suất lợi nhuận của các công ty sản xuất thép dẹt đã phục hồi từ quý 2/2019 nhờ giá HRC điều chỉnh.

Ngành thép 2020 tiếp tục tăng trưởng thấp dù ít áp lực giảm giá hơn; cạnh tranh thị phần sẽ tăng tốc - Ảnh 2.
Ngành thép 2020 tiếp tục tăng trưởng thấp dù ít áp lực giảm giá hơn; cạnh tranh thị phần sẽ tăng tốc - Ảnh 3.

Điểm đáng chú ý năm qua, giá quặng sắt tăng do thảm họa ở Brazil. Ghi nhận, giá quặng sắt tăng đáng kể hơn 70% so với mức cuối năm 2018, lên đỉnh điểm hơn 120 USD/tấn trong tháng 7 do sự cố vỡ đập ở mỏ Vale ở Brazil. Điều này dẫn đến tỷ suất lợi nhuân gộp của HPG giảm, do lực cầu yếu khiến công ty khó có thể chuyển mức tăng giá quặng sắt vào giá bán thép cho người tiêu dùng, đặc biệt là khi giá thép phế liệu giảm trong quý hai và quý ba năm nay. Tuy nhiên, vì Vale dự kiến sẽ khôi phục 70% công suất bị mất trong năm 2019-2020, giá quặng sắt dự kiến sẽ giảm còn khoảng 70-80USD /tấn trong năm 2020.

Tựu chung, ngành thép giảm 4% về vốn hóa trong năm 2019 so với mức tăng 7,7% của VN-Index trong giai đoạn này. Giá cổ phiếu HPG giảm nhẹ 1% do lợi nhuận 9 tháng 2019 giảm do giá quặng sắt tăng đột biến. Mặt khác, giá cổ phiếu HSG tăng 32% so với mức giá sàn vào cuối năm 2018, nhờ tỷ suất lợi nhuận gộp hồi phục, SSI Research thống kê.

Ngành thép 2020 tiếp tục tăng trưởng thấp dù ít áp lực giảm giá hơn; cạnh tranh thị phần sẽ tăng tốc - Ảnh 4.

Năm 2020 tiếp tục tăng trưởng thấp dù áp lực giảm giá dự suy giảm

Dự báo cho năm 2020, sản lượng tiêu thụ khó có thể phục hồi mạnh mẽ. SSI Research ước tính tăng trưởng sản lượng tiêu thụ của ngành tiếp tục ở mức thấp từ 5-7% trong năm 2020 do sự trì trệ ở thị trường bất động sản cùng với đầu tư công chậm. Tuy nhiên, việc gia tăng giải ngân nguồn vốn FDI có thể là yếu tố hỗ trợ cho nhu cầu thép.

Song song, gia tăng công suất có thể gia tăng sức ép cạnh tranh. Trong năm 2020, tổng công suất thép xây dựng ước tính tăng 15%, đến từ khu liên hợp thép Dung Quất của HPG và nhà máy VAS Nghi Sơn với công suất lần lượt là 2 triệu tấn và 500 nghìn tấn. Tuy nhiên, một phần của việc gia tăng công suất bù đắp cho việc đóng cửa một số dây chuyền sản xuất, ví dụ như từ Posco SS ở miền Nam với công suất 500 nghìn tấn/năm.

Mặt khác, xu hướng chiếm lĩnh thị phần có thể tăng tốc, nhưng áp lực giảm giá thép không quá lớn. Trong bối cảnh áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng, xu hướng chiếm lĩnh thị phần trong mảng thép xây dựng có thể tăng tốc theo hướng có lợi cho các công ty lớn với lợi thế đáng kể về chi phí sản xuất, vận chuyển, và hệ thống phân phối như HPG. Tuy nhiên, do tỷ suất EBITDA của nhiều nhà sản xuất gần bằng 0, SSI Research cho rằng áp lực giảm giá thép không quá lớn, do các công ty nhỏ hơn và không hiệu quả có thể chọn cắt giảm sản lượng sản xuất khi doanh thu không thể bù đắp được chi phí.

So với thép xây dựng, thị trường tôn mạ có thể ổn định hơn trong năm 2020, do các công ty lớn nhất không có kế hoạch mở rộng công suất trong năm tới.

Cuối cùng, sự lan rộng xu hướng bảo hộ có khả năng còn diễn ra. Trong bối cảnh xu hướng bảo hộ trên toàn thế giới, Việt Nam có thể gia hạn các mức thuế bảo hộ cho thép dài trong năm tới. Mức thuế hiện tại là 17,3% đối với phôi thép dài và 10,9% đối với thép xây dựng. Điều đáng chú ý là ngay cả trong trường hợp thuế không được gia hạn, áp lực từ Trung Quốc tăng không đáng kể, do giá thép hiện tại ở Trung Quốc không chênh lệch nhiều với giá thép ở Việt Nam.

Các vấn đề và rủi ro, theo SSI Research:

(1) Nền kinh tế Trung Quốc chậm lại có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nhu cầu thép ở các công ty sản xuất lớn nhất thế giới, và có tác động gián tiếp đến giá thép trong nước ở Việt Nam. Theo Hiệp hội thép Việt Nam, nhu cầu thép ở Trung Quốc trong năm 2020 ước tính tăng 1%, thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng ước tính là 7,8% trong năm 2019. Do đó, tổng mức tăng trưởng nhu cầu thép thế giới ước tính đạt 1,7% trong năm 2020, giảm từ 3,9% trong năm 2019.

(2) Công suất tăng đáng kể trong khi nhu cầu tăng trưởng chậm lại, đặc biệt là thép xây dựng, có thể gia tăng sức ép cạnh tranh cho thị trường trong nước, và làm giá thép trong nước biến động mạnh hơn.

Ngành thép 2020 tiếp tục tăng trưởng thấp dù ít áp lực giảm giá hơn; cạnh tranh thị phần sẽ tăng tốc - Ảnh 5.
Thép Miền Bắc tin tức

Đại hội Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V (2019-2023)

Đại hội Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V (2019-2023) đã tổ chức thành công tốt đẹp. Kết thúc Đại hội đã nhất trí với danh sách Ban Chấp hành nhiệm kỳ V gồm 13 người. Đồng thời, Ban Chấp hành tiến hành họp phiên thứ nhất và bầu ông Nghiêm Xuân Đa – Chủ tịch Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP làm Chủ tịch Hiệp hội trong nhiệm kỳ mới. Nhiệm kỳ V của Hiệp hội Thép Việt Nam sẽ là giai đoạn ngành thép Việt Nam bước sang một tầm cao mới, công nghệ kỹ thuật hiện đại và phát triển bền vững hướng tới công nghiệp 4.0.

Chiều 12/4/2019, tại Hà Nội, Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) đã tổ chức Đại hội V, nhiệm kỳ 2019-2023.

Đại hội Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V (2019-2023)
Toàn thể đại biểu đứng dậy chào cờ trước khi bắt đầu Đại hội

Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ IV (2013-2018), ông Nguyễn Văn Sưa, Phó Chủ tịch VSA nhiệm kỳ IV cho biết, đây là giai đoạn ngành thép Việt Nam đạt được rất nhiều thành tựu trong các lĩnh vực sản xuất, tiêu thụ, xuất nhập khẩu, đầu tư, kiện toàn tổ chức, hợp tác quốc tế và phòng vệ thương mại.

Đại hội Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V (2019-2023)
Ông Nguyễn Văn Sưa, Phó Chủ tịch VSA nhiệm kỳ IV báo cáo tổng kết hoạt động của Hiệp hội trong nhiệm kỳ vừa qua

Tuy nhiên, trong những năm qua ngành thép cũng phải đối mặt với nhiều thách thức do dư thừa công suất, sức ép cạnh tranh ngày càng khốc liệt không chỉ từ những doanh nghiệp sản xuất trong nước mà còn ảnh hưởng trực tiếp của thép nhập khẩu từ Trung Quốc.

Bên cạnh đó, nguyên liệu đầu vào lại tăng giảm thất thường, những yếu tố đó tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thép. Xác định được khó khăn đó, nhiều doanh nghiệp đã tích cực đầu tư, đổi mới công nghệ, thiết bị máy móc hiện đại vào sản xuất; đổi mới cả về tư duy, quản trị, tích sản xuất kinh doanh những năm qua đều có mức tăng trưởng khá.

Cụ thể, về tình hình nhập khẩu, do chưa phát triển đồng bộ và toàn diện nên hàng năm, năm nước ta phải nhập khẩu một số lượng khá lớn bán thành phẩm (phôi thép) và các loại thành phẩm, đặc biệt là thép dẹt cán nóng (HRC), thép  không gỉ và thép chế tạo.

Đại hội Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V (2019-2023)

Số lượng nhập khẩu thép thành phẩm tăng từ 11,2 triệu tấn năm 2014 lên 17,5 triệu tấn năm 2016. Từ năm 2017, Việt Nam đã sản xuất thép cuộn cán nóng nên số lượng thép nhập khẩu năm 2017 đã giảm 16% và tiếp tục giảm 6,7% vào năm 2018. Xu hướng này được dự báo còn tiếp tục trong những năm tiếp theo.

Về tình hình xuất khẩu, mặc dù còn gặp phải nhiều cản trở (hàng rào kỹ thuật, các biện pháp phòng vệ thương mại do các nước áp dụng) nhưng hàng năm, ngành thép nước ta vẫn xuất khẩu với số lượng và kim ngạch ngày càng tăng. Nếu như, năm 2014, xuất khẩu được 2,55 triệu tấn thì 2017 đã đạt 4,85 triệu tấn.

Năm 2018, mặc dù gặp nhiều vụ kiện phòng vệ thương mại do nước ngoài áp dụng đối với các sản phẩm ngành thép xuất khẩu của nước ta, nhưng số lượng xuất khẩu vẫn đạt 6,68 triệu tấn, tăng gần 28% so với năm 2017.

Đại hội Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V (2019-2023)
Ông Hồ Nghĩa Dũng – Chủ tịch VSA nhệm kỳ IV phát biểu tại Đại hội

Theo dự tính, trong nhiệm kỳ V, giai đoạn 2019 – 2023 nằm ở nửa cuối kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm “giai đoạn 2016-2020”, nửa đầu của kế hoạch 5 năm giai đoạn 2021-2025, với tốc độ tăng trưởng kinh tế dự báo khá cao, 6,7-7,0%/năm nên nhu cầu thép cũng tăng cao.

Đây cũng là giai đoạn hội nhập kinh tế sâu rộng, đặc biệt là thực hiện các hiệp định tự do thương mại thế giới mới sẽ tạo điều kiện tốt cho ngành Thép Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu cũng như nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị, công nghệ tốt cho sản xuất thép.

Dự báo trên cho thấy ngành thép sẽ gặp những thuận lợi nhất định, tuy nhiên việc thực hiện các hiệp định tự do hóa thương mại sẽ tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt hơn, nhất là với các sản phẩm thép từ Trung Quốc.

Bên cạnh đó, cũng phải xác định, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều vụ tranh tụng thương mại quốc tế diễn ra thường xuyên hơn, đây chính là nguyên do làm cho công tác xuất khẩu các sản phẩm thép sẽ gặp nhiều khó khăn.

Từ thực tế trên, bên cạnh những thuận lợi, ngành thép phải đối mặt với khó khăn lớn, nhưng với quyết tâm đổi mới toàn diện, sáng tạo, VSA tin rằng ngành thép Việt Nam sẽ phấn đấu sản xuất kinh doanh tăng trưởng trung bình khoảng 8% – 10%/năm. Năm m 2019 và 2020 dự kiến tăng trưởng khoảng 10%; 2021 đến 2023 trung bình là 8%.

Đại hội Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V (2019-2023)

Tại hội thảo, ông Nguyễn Đình Phúc – Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Thép Việt Nam đã bày tỏ quan điểm lo ngại trước sức ép cạnh tranh của ngành thép ngày càng gay gắt kể từ năm 2010 trở lại đây. Qua đây, ông cũng cho rằng, việc tăng cường công tác thị trường là rất quan trọng nhưng cần có sự cạnh tranh lành mạnh.

Để ngành thép phát triển mang tính ổn định, đưa sản phẩm thép có chất lượng tốt tới người tiêu dùng cần phải có biện pháp ngăn chặn hàng kém chất lượng tràn vào trong nước.Cụ thể, đối với sản phẩm phôi thép trong thời gian này gặp nhiều khó khăn do sức ép cạnh tranh với phôi giá rẻ.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp trong nước phải mua nguyên liệu đầu vào giá cao, nhưng đầu ra của phôi lại thấp nên càng sản xuất càng thua lỗ. Trước đây việc phòng vệ thương mại được áp dụng mạnh mẽ nên sản phẩm phôi trong nước bớt đi phần nào khó khăn, nhưng đến nay bảo hộ cũng sắp hết liệu lực.

Do đó, doanh nghiệp sản xuất phôi trong nước đang rất cần các bộ, ngành, đặc biệt là Bộ Công Thương xem xét, sớm tiếp tục ban hành bộ tiêu chuẩn bảo vệ sản phẩm phôi thép, giúp doanh nghiệp sản xuất trong nước phát triển ổn định, bảo toàn nguồn vốn và tạo việc làm ổn định cho người lao động.

Đại hội Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V (2019-2023)
Ban chấp hành Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V, giai đoạn 2019-2023 gồm 13 người, ra mắt trước Đại hội

Tại Đại hội, các hội viên, thành viên đều nhất trí với danh sách Ban Chấp hành nhiệm kỳ V 2019-2023 gồm 13 người. Sau khi tiến hành họp phiên thứ nhất, Ban chấp hành Đại hội V đã nhất trí bầu ông Nghiêm Xuân Đa giữ chức Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam – VSA nhiệm kỳ V, giai đoạn 2019-2023.

Đại hội Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V (2019-2023)
Ông Nghiêm Xuân Đa giữ chức Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V, giai đoạn 2019-2023

Trên cương vị mới, ông Nghiêm Xuân Đa cho rằng, để nâng cao hiệu quả hoạt động của Hiệp hội, vì lợi ích của các thành viên Hiệp hội, lãnh đạo Hiệp hội Thép khóa V sẽ tăng cường triển khai hiệu quả 4 nhiệm vụ trọng tâm. Cụ thể,

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động của Hiệp hội để giải quyết những vấn đề nóng như: sự gia tăng tranh chấp thương mại, chủ nghĩa bảo hộ, vấn đề môi trường, sử dụng tài nguyên trong sản xuất…

Thứ hai, tăng cường hơn nữa công tác tư vấn, phản biện và đối thoại với các bộ, ngành và Chính phủ để Hiệp hội có tiếng nói trọng lượng, uy tín trong việc đề xuất các giải pháp chính sách công nghệ, môi trường, đầu tư và thương mại cho sản xuất để thức đẩy sự phát triển của từng thành viên Hiệp hội nói riêng và sự phát triển của ngành công nghiệp Thép nói chung.

Thứ ba, nâng cao chất lượng xây dựng, cung cấp thông tin cho các thành viên về sản xuất, tiêu thụ, đầu tư và xây dựng hệ thống thống kê về chỉ số đánh giá sự phát triển của ngành thép.

Thứ tư, tăng cường nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, chủ động mở rộng mối quan hệ hợp tác với các đối tác trong khu vực, các tổ chức quốc tế, mở rộng và chủ động đối thoại.

Để thực hiện tốt Nghị quyết của Đại hội và chỉ đạo của các Bộ, ngành, tân Chủ tịch VSA kêu gọi sự ủng hộ của tất cả các thành viên trong Hiệp hội, đề nghị tất các các thành viên nêu cao tinh thần trách nhiệm, phát huy thế mạnh của từng cá nhân để chung sức đưa Hiệp hội Thép Việt Nam ngày càng phát triển.

(Nguồn: Hiệp Hội Thép Việt Nam)

  • GÓP Ý

    Contact Form

  • Giờ làm việc: 8:00 - 17:30