Danh mục : Thị Trường

tin tức Thép Miền Bắc

Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 1/2020

Trong bối cảnh thị trường toàn cầu trầm lắng, thị trường thép trong nước tháng 01 năm 2020 có mức tăng trưởng sản xuất và bán hàng thép âm lần lượt là 22,3% và 31% so với cùng kỳ năm 2019.

Tình hình thị trường nguyên liệu sản xuất thép:

  • Quặng sắt loại 62%Fe:Giá quặng sắt ngày 07/02/2020 giao dịch ở mức 83 USD/Tấn CFR cảng Thiên Tân, Trung Quốc, giảm khoảng 10 USD/tấn so với đầu tháng 1/2020.
  • Than mỡ luyện coke: Giá than mỡ luyện cốc, xuất khẩu tại cảng Úc (giá FOB) ngày 07/02/2020: Hard coking coal: khoảng 137USD/tấn, tăng khoảng 15 USD/tấn so với đầu tháng 1/2020
  • Thép phế liệu: Giá thép phế HMS ½ 80:20 nhập khẩu cảng Đông Á ở mức 270-275 USD/tấn CFR Đông Á ngày 7/2/2020. Mức giá giảm so với hồi đầu tháng 1/2020 là 10-15 USD/tấn. Tại các thị trường Châu Á, Châu Mỹ và Châu Âu giá thép phế đều có xu hướng đi ngang và giảm.
  • Điện cực graphite: Nhìn chung, giá than điện cực trong tháng 1 năm 2020 tương đối ổn định.
    Mức giá giao dịch trung bình là khoảng 2.500 USD/tấn FOB Trung Quốc (loại nhỏ). Tuy nhiên, do tác động của dịch coronavirut, việc sản xuất và cung ứng than điện cực hạn chế sẽ dẫn đến giá than điện cực có cu hướng tăng trong thời gian tới.
  • Cuộn cán nóng HRC: Giá HRC ngày 08/02/2020 ở mức 470-470 USD/T, CFR cảng Đông Á, giảm ~20 USD/tấn với ngày 8/01/2020.
Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 1/2020

Tình hình sản xuất – bán hàng các sản phẩm thép:

Tháng 1/2020:

  • Sản xuất đạt 1.665.273 tấn, giảm 26,21% so với tháng trước và giảm 22,3% so với cùng kỳ 2019.
  • Bán hàng đạt 1.368.009 tấngiảm 31,83% so với tháng trước, và giảm 30,2% so với cùng kỳ năm 2019.

+ Trong đó, xuất khẩu thép đạt 283.134 tấngiảm 21,34% so   với tháng 12/2019 và giảm 38% so với cùng kỳ năm 2019.

Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 1/2020
Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 1/2020

Tình hình xuất nhập khẩu các sản phẩm thép tháng 11/2019:

  • Tình hình nhập khẩu:-Tính đến hết 31/12/2019, nhập khẩu sắt thép các loại tăng 7,6% về lượng nhưng giảm 3,9% về kim ngạch so với năm 2018, đạt 14,56 triệu tấn, trị giá 9,51 tỷ USD.Nhập khẩu thép từ Trung Quốc – thị trường lớn nhất, giảm 18% về lượng, giảm 26,6% về kim ngạch và giảm 10,5% về giá so với năm 2018, đạt 5,14 triệu tấn, tương đương 3,3 tỷ USD. Tổng lượng sắt thép nhập khẩu của cả nước và chiếm 34,7% trong tổng kim ngạch.
  • Tình hình xuất khẩu:

– Năm 2019, Việt Nam xuất khẩu lượng sắt thép của Việt Nam xuất khẩu ra thị trường nước ngoài tăng 6,6% về lượng nhưng giảm 7,4% về kim ngạch và giảm 13,2% về giá so với năm 2018, đạt 6,68 triệu tấn, tương đương 4,21 tỷ USD.

– Việt Nam xuất khẩu chủ yếu sang các nước Đông Nam Á, chiếm 62,5% trong tổng lượng sắt thép xuất khẩu của cả nước và chiếm 59,7% trong tổng kim ngạch, đạt 4,17 triệu tấn, tương đương 2,52 tỷ USD.

Tình hình thị trường thép Việt Nam tháng 1/2020

(Theo Bản tin Hiệp hội Thép tháng 1/2020)

tin tuc nganh thep

Ngành thép 2020 tiếp tục tăng trưởng thấp dù ít áp lực giảm giá hơn; cạnh tranh thị phần sẽ tăng tốc

Ngành thép 2020 tiếp tục tăng trưởng thấp dù ít áp lực giảm giá hơn; cạnh tranh thị phần sẽ tăng tốc

Tựu chung, ngành thép giảm 4% về vốn hóa trong năm 2019 so với mức tăng 7,7% của VN-Index trong giai đoạn này. Giá cổ phiếu HPG giảm nhẹ 1% do lợi nhuận 9 tháng 2019 giảm do giá quặng sắt tăng đột biến. Mặt khác, giá cổ phiếu HSG tăng 32% so với mức giá sàn vào cuối năm 2018, nhờ tỷ suất lợi nhuận gộp hồi phục, SSI Research thống kê.

Nhu cầu chững lại đáng kể từ giữa năm 2019, xuất khẩu bị ảnh hưởng do sự lan rộng của xu hướng bảo hộ và giá thép giảm do nhu cầu cũng như xu hướng giá toàn cầu giảm, dẫn đến thua lỗ ở một số công ty sản xuất thép xây dựng là những tiêu điểm về thị trường thép năm 2019, ghi nhận bởi SSI Research.

Chi tiết, sau 1 năm lạc quan với mức tăng trưởng sản lượng thành phẩm đạt 10%  trong năm 2018, sản lượng tiêu thụ thép duy trì hiệu suất ổn định trong 4 tháng đầu năm 2019 với tổng mức tăng trưởng sản lượng đạt 11%. Sản lượng tiêu thụ trong nước tăng 15% so với cùng kỳ, do các hoạt động xây dựng từ các dự án của các năm trước và việc giá thép phục hồi khuyến khích các đại lý tích lũy hàng tồn kho.

Tuy nhiên, từ tháng 5 đến tháng 11, nhu cầu giảm đáng kể với tổng sản lượng tiêu thụ không thay đổi so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó sản lượng tiêu thụ trong nước tăng vừa phải ở mức 3,5%.

Nhìn chung, sản lượng tiêu thụ thành phẩm trong 11 tháng đầu năm 2019 tăng 3,5%; đạt 15,4 triệu tấn, trong đó thép xây dựng đạt 9,7 triệu tấn (+6,5%); trong khi sản lượng thép ống và tôn mạ không thay đổi đạt 5,6 triệu tấn.

Ngành thép 2020 tiếp tục tăng trưởng thấp dù ít áp lực giảm giá hơn; cạnh tranh thị phần sẽ tăng tốc - Ảnh 1.
2019 là một năm khó khăn nữa đối với xuất khẩu thép

Mặt khác, 2019 là một năm khó khăn nữa đối với xuất khẩu thép. Mặc dù sản lượng xuất khẩu thép xây dựng đạt mức tăng trưởng nhẹ 1,6% trong 9 tháng đầu năm 2019, sản lượng xuất khẩu thép ống và tôn mạ giảm đáng kể 19% so với cùng kỳ năm ngoái do sự lan rộng của xu hướng bảo hộ giữa các quốc gia để áp đặt các biện pháp hạn chế nhập khẩu thép. Thị trường Mỹ và EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai và thứ ba của Việt Nam đã giảm mạnh về sản lượng (-44%), chỉ chiếm 10% tổng sản lượng tiêu thụ trong 9T2019 so với mức 19% trong 9 tháng đầu năm 2018.

Sau khi phục hồi 6-7% trong 4 tháng đầu năm, giá thép xây dựng đã điều chỉnh 10% trong 7 tháng tiếp theo do nhu cầu và giá nguyên liệu thô giảm. Giá thép giảm ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận của các công ty sản xuất thép hiện tại, nhiều công ty đã giảm sâu tỷ suất lợi nhuận hoặc thua lỗ và phải cắt giảm sản lượng sản xuất, dẫn đến mất thị phần. Do đó, các công ty lớn có lợi thế hơn về chi phí sản xuất như HPG đã tận dụng được tình huống này đề giành thị phần nhiều hơn.

Mặt khác, tỷ suất lợi nhuận của các công ty sản xuất thép dẹt đã phục hồi từ quý 2/2019 nhờ giá HRC điều chỉnh.

Ngành thép 2020 tiếp tục tăng trưởng thấp dù ít áp lực giảm giá hơn; cạnh tranh thị phần sẽ tăng tốc - Ảnh 2.
Ngành thép 2020 tiếp tục tăng trưởng thấp dù ít áp lực giảm giá hơn; cạnh tranh thị phần sẽ tăng tốc - Ảnh 3.

Điểm đáng chú ý năm qua, giá quặng sắt tăng do thảm họa ở Brazil. Ghi nhận, giá quặng sắt tăng đáng kể hơn 70% so với mức cuối năm 2018, lên đỉnh điểm hơn 120 USD/tấn trong tháng 7 do sự cố vỡ đập ở mỏ Vale ở Brazil. Điều này dẫn đến tỷ suất lợi nhuân gộp của HPG giảm, do lực cầu yếu khiến công ty khó có thể chuyển mức tăng giá quặng sắt vào giá bán thép cho người tiêu dùng, đặc biệt là khi giá thép phế liệu giảm trong quý hai và quý ba năm nay. Tuy nhiên, vì Vale dự kiến sẽ khôi phục 70% công suất bị mất trong năm 2019-2020, giá quặng sắt dự kiến sẽ giảm còn khoảng 70-80USD /tấn trong năm 2020.

Tựu chung, ngành thép giảm 4% về vốn hóa trong năm 2019 so với mức tăng 7,7% của VN-Index trong giai đoạn này. Giá cổ phiếu HPG giảm nhẹ 1% do lợi nhuận 9 tháng 2019 giảm do giá quặng sắt tăng đột biến. Mặt khác, giá cổ phiếu HSG tăng 32% so với mức giá sàn vào cuối năm 2018, nhờ tỷ suất lợi nhuận gộp hồi phục, SSI Research thống kê.

Ngành thép 2020 tiếp tục tăng trưởng thấp dù ít áp lực giảm giá hơn; cạnh tranh thị phần sẽ tăng tốc - Ảnh 4.

Năm 2020 tiếp tục tăng trưởng thấp dù áp lực giảm giá dự suy giảm

Dự báo cho năm 2020, sản lượng tiêu thụ khó có thể phục hồi mạnh mẽ. SSI Research ước tính tăng trưởng sản lượng tiêu thụ của ngành tiếp tục ở mức thấp từ 5-7% trong năm 2020 do sự trì trệ ở thị trường bất động sản cùng với đầu tư công chậm. Tuy nhiên, việc gia tăng giải ngân nguồn vốn FDI có thể là yếu tố hỗ trợ cho nhu cầu thép.

Song song, gia tăng công suất có thể gia tăng sức ép cạnh tranh. Trong năm 2020, tổng công suất thép xây dựng ước tính tăng 15%, đến từ khu liên hợp thép Dung Quất của HPG và nhà máy VAS Nghi Sơn với công suất lần lượt là 2 triệu tấn và 500 nghìn tấn. Tuy nhiên, một phần của việc gia tăng công suất bù đắp cho việc đóng cửa một số dây chuyền sản xuất, ví dụ như từ Posco SS ở miền Nam với công suất 500 nghìn tấn/năm.

Mặt khác, xu hướng chiếm lĩnh thị phần có thể tăng tốc, nhưng áp lực giảm giá thép không quá lớn. Trong bối cảnh áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng, xu hướng chiếm lĩnh thị phần trong mảng thép xây dựng có thể tăng tốc theo hướng có lợi cho các công ty lớn với lợi thế đáng kể về chi phí sản xuất, vận chuyển, và hệ thống phân phối như HPG. Tuy nhiên, do tỷ suất EBITDA của nhiều nhà sản xuất gần bằng 0, SSI Research cho rằng áp lực giảm giá thép không quá lớn, do các công ty nhỏ hơn và không hiệu quả có thể chọn cắt giảm sản lượng sản xuất khi doanh thu không thể bù đắp được chi phí.

So với thép xây dựng, thị trường tôn mạ có thể ổn định hơn trong năm 2020, do các công ty lớn nhất không có kế hoạch mở rộng công suất trong năm tới.

Cuối cùng, sự lan rộng xu hướng bảo hộ có khả năng còn diễn ra. Trong bối cảnh xu hướng bảo hộ trên toàn thế giới, Việt Nam có thể gia hạn các mức thuế bảo hộ cho thép dài trong năm tới. Mức thuế hiện tại là 17,3% đối với phôi thép dài và 10,9% đối với thép xây dựng. Điều đáng chú ý là ngay cả trong trường hợp thuế không được gia hạn, áp lực từ Trung Quốc tăng không đáng kể, do giá thép hiện tại ở Trung Quốc không chênh lệch nhiều với giá thép ở Việt Nam.

Các vấn đề và rủi ro, theo SSI Research:

(1) Nền kinh tế Trung Quốc chậm lại có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nhu cầu thép ở các công ty sản xuất lớn nhất thế giới, và có tác động gián tiếp đến giá thép trong nước ở Việt Nam. Theo Hiệp hội thép Việt Nam, nhu cầu thép ở Trung Quốc trong năm 2020 ước tính tăng 1%, thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng ước tính là 7,8% trong năm 2019. Do đó, tổng mức tăng trưởng nhu cầu thép thế giới ước tính đạt 1,7% trong năm 2020, giảm từ 3,9% trong năm 2019.

(2) Công suất tăng đáng kể trong khi nhu cầu tăng trưởng chậm lại, đặc biệt là thép xây dựng, có thể gia tăng sức ép cạnh tranh cho thị trường trong nước, và làm giá thép trong nước biến động mạnh hơn.

Ngành thép 2020 tiếp tục tăng trưởng thấp dù ít áp lực giảm giá hơn; cạnh tranh thị phần sẽ tăng tốc - Ảnh 5.
Thép Miền Bắc tin tức

Đại hội Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V (2019-2023)

Đại hội Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V (2019-2023) đã tổ chức thành công tốt đẹp. Kết thúc Đại hội đã nhất trí với danh sách Ban Chấp hành nhiệm kỳ V gồm 13 người. Đồng thời, Ban Chấp hành tiến hành họp phiên thứ nhất và bầu ông Nghiêm Xuân Đa – Chủ tịch Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP làm Chủ tịch Hiệp hội trong nhiệm kỳ mới. Nhiệm kỳ V của Hiệp hội Thép Việt Nam sẽ là giai đoạn ngành thép Việt Nam bước sang một tầm cao mới, công nghệ kỹ thuật hiện đại và phát triển bền vững hướng tới công nghiệp 4.0.

Chiều 12/4/2019, tại Hà Nội, Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) đã tổ chức Đại hội V, nhiệm kỳ 2019-2023.

Đại hội Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V (2019-2023)
Toàn thể đại biểu đứng dậy chào cờ trước khi bắt đầu Đại hội

Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ IV (2013-2018), ông Nguyễn Văn Sưa, Phó Chủ tịch VSA nhiệm kỳ IV cho biết, đây là giai đoạn ngành thép Việt Nam đạt được rất nhiều thành tựu trong các lĩnh vực sản xuất, tiêu thụ, xuất nhập khẩu, đầu tư, kiện toàn tổ chức, hợp tác quốc tế và phòng vệ thương mại.

Đại hội Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V (2019-2023)
Ông Nguyễn Văn Sưa, Phó Chủ tịch VSA nhiệm kỳ IV báo cáo tổng kết hoạt động của Hiệp hội trong nhiệm kỳ vừa qua

Tuy nhiên, trong những năm qua ngành thép cũng phải đối mặt với nhiều thách thức do dư thừa công suất, sức ép cạnh tranh ngày càng khốc liệt không chỉ từ những doanh nghiệp sản xuất trong nước mà còn ảnh hưởng trực tiếp của thép nhập khẩu từ Trung Quốc.

Bên cạnh đó, nguyên liệu đầu vào lại tăng giảm thất thường, những yếu tố đó tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thép. Xác định được khó khăn đó, nhiều doanh nghiệp đã tích cực đầu tư, đổi mới công nghệ, thiết bị máy móc hiện đại vào sản xuất; đổi mới cả về tư duy, quản trị, tích sản xuất kinh doanh những năm qua đều có mức tăng trưởng khá.

Cụ thể, về tình hình nhập khẩu, do chưa phát triển đồng bộ và toàn diện nên hàng năm, năm nước ta phải nhập khẩu một số lượng khá lớn bán thành phẩm (phôi thép) và các loại thành phẩm, đặc biệt là thép dẹt cán nóng (HRC), thép  không gỉ và thép chế tạo.

Đại hội Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V (2019-2023)

Số lượng nhập khẩu thép thành phẩm tăng từ 11,2 triệu tấn năm 2014 lên 17,5 triệu tấn năm 2016. Từ năm 2017, Việt Nam đã sản xuất thép cuộn cán nóng nên số lượng thép nhập khẩu năm 2017 đã giảm 16% và tiếp tục giảm 6,7% vào năm 2018. Xu hướng này được dự báo còn tiếp tục trong những năm tiếp theo.

Về tình hình xuất khẩu, mặc dù còn gặp phải nhiều cản trở (hàng rào kỹ thuật, các biện pháp phòng vệ thương mại do các nước áp dụng) nhưng hàng năm, ngành thép nước ta vẫn xuất khẩu với số lượng và kim ngạch ngày càng tăng. Nếu như, năm 2014, xuất khẩu được 2,55 triệu tấn thì 2017 đã đạt 4,85 triệu tấn.

Năm 2018, mặc dù gặp nhiều vụ kiện phòng vệ thương mại do nước ngoài áp dụng đối với các sản phẩm ngành thép xuất khẩu của nước ta, nhưng số lượng xuất khẩu vẫn đạt 6,68 triệu tấn, tăng gần 28% so với năm 2017.

Đại hội Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V (2019-2023)
Ông Hồ Nghĩa Dũng – Chủ tịch VSA nhệm kỳ IV phát biểu tại Đại hội

Theo dự tính, trong nhiệm kỳ V, giai đoạn 2019 – 2023 nằm ở nửa cuối kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm “giai đoạn 2016-2020”, nửa đầu của kế hoạch 5 năm giai đoạn 2021-2025, với tốc độ tăng trưởng kinh tế dự báo khá cao, 6,7-7,0%/năm nên nhu cầu thép cũng tăng cao.

Đây cũng là giai đoạn hội nhập kinh tế sâu rộng, đặc biệt là thực hiện các hiệp định tự do thương mại thế giới mới sẽ tạo điều kiện tốt cho ngành Thép Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu cũng như nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị, công nghệ tốt cho sản xuất thép.

Dự báo trên cho thấy ngành thép sẽ gặp những thuận lợi nhất định, tuy nhiên việc thực hiện các hiệp định tự do hóa thương mại sẽ tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt hơn, nhất là với các sản phẩm thép từ Trung Quốc.

Bên cạnh đó, cũng phải xác định, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều vụ tranh tụng thương mại quốc tế diễn ra thường xuyên hơn, đây chính là nguyên do làm cho công tác xuất khẩu các sản phẩm thép sẽ gặp nhiều khó khăn.

Từ thực tế trên, bên cạnh những thuận lợi, ngành thép phải đối mặt với khó khăn lớn, nhưng với quyết tâm đổi mới toàn diện, sáng tạo, VSA tin rằng ngành thép Việt Nam sẽ phấn đấu sản xuất kinh doanh tăng trưởng trung bình khoảng 8% – 10%/năm. Năm m 2019 và 2020 dự kiến tăng trưởng khoảng 10%; 2021 đến 2023 trung bình là 8%.

Đại hội Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V (2019-2023)

Tại hội thảo, ông Nguyễn Đình Phúc – Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Thép Việt Nam đã bày tỏ quan điểm lo ngại trước sức ép cạnh tranh của ngành thép ngày càng gay gắt kể từ năm 2010 trở lại đây. Qua đây, ông cũng cho rằng, việc tăng cường công tác thị trường là rất quan trọng nhưng cần có sự cạnh tranh lành mạnh.

Để ngành thép phát triển mang tính ổn định, đưa sản phẩm thép có chất lượng tốt tới người tiêu dùng cần phải có biện pháp ngăn chặn hàng kém chất lượng tràn vào trong nước.Cụ thể, đối với sản phẩm phôi thép trong thời gian này gặp nhiều khó khăn do sức ép cạnh tranh với phôi giá rẻ.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp trong nước phải mua nguyên liệu đầu vào giá cao, nhưng đầu ra của phôi lại thấp nên càng sản xuất càng thua lỗ. Trước đây việc phòng vệ thương mại được áp dụng mạnh mẽ nên sản phẩm phôi trong nước bớt đi phần nào khó khăn, nhưng đến nay bảo hộ cũng sắp hết liệu lực.

Do đó, doanh nghiệp sản xuất phôi trong nước đang rất cần các bộ, ngành, đặc biệt là Bộ Công Thương xem xét, sớm tiếp tục ban hành bộ tiêu chuẩn bảo vệ sản phẩm phôi thép, giúp doanh nghiệp sản xuất trong nước phát triển ổn định, bảo toàn nguồn vốn và tạo việc làm ổn định cho người lao động.

Đại hội Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V (2019-2023)
Ban chấp hành Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V, giai đoạn 2019-2023 gồm 13 người, ra mắt trước Đại hội

Tại Đại hội, các hội viên, thành viên đều nhất trí với danh sách Ban Chấp hành nhiệm kỳ V 2019-2023 gồm 13 người. Sau khi tiến hành họp phiên thứ nhất, Ban chấp hành Đại hội V đã nhất trí bầu ông Nghiêm Xuân Đa giữ chức Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam – VSA nhiệm kỳ V, giai đoạn 2019-2023.

Đại hội Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V (2019-2023)
Ông Nghiêm Xuân Đa giữ chức Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam nhiệm kỳ V, giai đoạn 2019-2023

Trên cương vị mới, ông Nghiêm Xuân Đa cho rằng, để nâng cao hiệu quả hoạt động của Hiệp hội, vì lợi ích của các thành viên Hiệp hội, lãnh đạo Hiệp hội Thép khóa V sẽ tăng cường triển khai hiệu quả 4 nhiệm vụ trọng tâm. Cụ thể,

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động của Hiệp hội để giải quyết những vấn đề nóng như: sự gia tăng tranh chấp thương mại, chủ nghĩa bảo hộ, vấn đề môi trường, sử dụng tài nguyên trong sản xuất…

Thứ hai, tăng cường hơn nữa công tác tư vấn, phản biện và đối thoại với các bộ, ngành và Chính phủ để Hiệp hội có tiếng nói trọng lượng, uy tín trong việc đề xuất các giải pháp chính sách công nghệ, môi trường, đầu tư và thương mại cho sản xuất để thức đẩy sự phát triển của từng thành viên Hiệp hội nói riêng và sự phát triển của ngành công nghiệp Thép nói chung.

Thứ ba, nâng cao chất lượng xây dựng, cung cấp thông tin cho các thành viên về sản xuất, tiêu thụ, đầu tư và xây dựng hệ thống thống kê về chỉ số đánh giá sự phát triển của ngành thép.

Thứ tư, tăng cường nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, chủ động mở rộng mối quan hệ hợp tác với các đối tác trong khu vực, các tổ chức quốc tế, mở rộng và chủ động đối thoại.

Để thực hiện tốt Nghị quyết của Đại hội và chỉ đạo của các Bộ, ngành, tân Chủ tịch VSA kêu gọi sự ủng hộ của tất cả các thành viên trong Hiệp hội, đề nghị tất các các thành viên nêu cao tinh thần trách nhiệm, phát huy thế mạnh của từng cá nhân để chung sức đưa Hiệp hội Thép Việt Nam ngày càng phát triển.

(Nguồn: Hiệp Hội Thép Việt Nam)

  • GÓP Ý

    Contact Form

  • Giờ làm việc: 8:00 - 17:30